TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
BẢN ÁN 13/2024/KDTM-ST NGÀY 13/08/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN
Ngày 13 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 10/2023/TLST-KDTM, ngày 23 tháng 02 năm 2023 về việc tranh chấp “Hợp đồng mua bán” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2024/QĐXXST-KDTM ngày 15 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2024/QĐST-KDTM ngày 01 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty cổ phần S.
Địa chỉ trụ sở: Lô K đường C, KCN T, khu phố T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đào Bá T - chức vụ: Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: ông Trần Nam T1 hoặc ông Lê Nhật M (xin vắng mặt)
2. Bị đơn: Công ty Cổ phần T2.
Địa chỉ trụ sở: khu phố B, xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đặng Đức N - Chức vụ: Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị M1 (Theo giấy ủy quyền ngày 01/6/2024) - xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện ngày 27 tháng 9 năm 2022, trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Công ty cổ phần S (Công ty S) trình bày: Công ty S và Công ty cổ phần T2 (Công ty T2) có ký kết với nhau Hợp đồng kinh tế về việc mua bán beton cement tươi số 010706/SMC/HĐBT-18 ngày 07/06/2018. Theo hợp đồng, Công ty T2 chấp thuận cho Công ty S cung cấp beton trộn sẵn đến công trình: Nhà liền kề - KDC B, huyện Đ, Long An; giá trị Hợp đồng sẽ tính theo khối lượng beton cung cấp thực tế.
Điều khoản thanh toán: Khoản 1 Điều 3 hợp đồng, căn cứ theo khối lượng và chủng loại beton giao nhận thực tế của mỗi đơn hàng (được thể hiện trên phiếu giao hàng có sự ký nhận của đại diện Công ty T2 tại công trình), 15 ngày kể từ ngày cấp beton, Công ty S và xuất hóa đơn cho Công ty T2, Công ty T2 có trách nhiệm thanh toán 100% giá trị cho Công ty S trong vòng 05 ngày kề từ ngày tổng hợp khối lượng;
Thực hiện hợp đồng, từ ngày 08/06/2018 đến ngày 11/06/2019, Công ty S đã cung cấp beton cho Công ty T2 với tổng giá trị là 976.996.500 đồng. Sau khi hai bên đã thống nhất khối lượng đúng và đủ, Công ty S đã xuất cho Công ty T2 15 hóa đơn giá trị gia tăng. Từ ngày 08/06/2018 đến ngày 04/06/2019, Công ty S đã được Công ty T2 thanh toán tổng số tiền là 807.064.000 đồng, Công ty T2 còn nợ Công ty S số tiền là 169.932.500 đồng. Do ngày tổng hợp khối lượng và xuất hóa đơn sau cùng là 11/06/2019 nên thời hạn thanh toán sau cùng theo thỏa thuận trong hợp đồng là ngày 16/06/2019 nên khoản nợ này đã bị chậm trả kể từ ngày 17/06/2019. Công ty S đã nhiều lần đề nghị Công ty T2 thanh toán khoản nợ quá hạn nhưng chưa được thanh toán.
Do đó, Công ty S khởi kiện yêu cầu công ty T2 phải trả Công ty SMC số tiền hàng còn nợ là 169.932.500 đồng và số tiền lãi do chậm trả với lãi suất 13,5%/năm, 0,0369%/ngày trên số tiền chậm tra, tính từ ngày 17/06/2019 đến ngày giải quyết vụ án.
Do tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng, căn cứ điểm g khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự, Công ty SMC lựa chọn Tòa án nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An, nơi hợp đồng được thực hiện để giải quyết yêu cầu khởi kiện của Công ty S.
Tại bản tự khai ngày 29/6/2024, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thay đổi yêu cầu về mức lãi suất chậm trả, cụ thể, nguyên đơn yêu cầu mức lãi suất chậm trả là 9%/năm tính từ ngày 17/6/2019 Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn Công ty cổ phần T2 trình bày:
Công ty T2 xác nhận có ký Hợp đồng kinh tế về việc mua bán beton cement tươi số 010706/SMC/HĐBT-18 ngày 07/06/2018 với Công ty S về việc cung cấp beton trộn sẵn đến công trình: Nhà liền kề - KDC B, huyện Đ, tỉnh Long An và còn nợ Công ty S số tiền hàng chưa thanh toán là 169.932.500 đồng từ ngày 16/6/2019 đến nay.
Đối với khoản công nợ của Công ty S, Công ty T2 rất muốn cố gắng thanh toán sớm, nhưng do hiện tại tài chính của Công ty T2 rất khó khăn nên đề nghị nguyên đơn xem xét để bị đơn được giãn thanh toán trả dần cho nguyên đơn mỗi tháng 5.000.000 đồng. Bị đơn đồng ý với mức lãi suất 9%/năm như nguyên đơn yêu cầu tuy nhiên bị đơn xin được miễn lãi.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An:
- Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử vụ án, những người tiến hành tố tụng, nguyên đơn, bị đơn đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Bị đơn có lời trình bày xác nhận có giao kết hợp đồng kinh tế và còn nợ nguyên đơn số tiền hàng chưa thanh toán là 169.932.500 đồng từ ngày 16/6/2019. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về lãi suất, mức lãi suất mà nguyên đơn yêu cầu (9%/năm) là có lợi cho bị đơn nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ các kết quả xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
Công ty S khởi kiện yêu cầu Công ty T2 thanh toán tiền hàng hóa theo hợp đồng kinh tế đã ký kết. Do đó, quan hệ tranh chấp là tranh chấp “Hợp đồng mua bán”; hợp đồng được hai bên ký kết nhằm mục đích lợi nhuận và hai bên đều có đăng ký kinh doanh, nên thuộc tranh chấp về kinh doanh thương mại, được quy định tại khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Do tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng, nguyên đơn có văn bản chọn Tòa án nơi hợp đồng được thực hiện đề giải quyết vụ việc, nguyên đơn và bị đơn thống nhất khu dân cư Bella Villa, huyện Đ, Long An là nơi hợp đồng được thực hiện. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm g khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và bị đơn có đơn đề nghị được vắng mặt nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án là phù hợp theo quy định tại Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện các thủ tục mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải. Các đương sự đều thống nhất các chứng cứ của vụ án đã được giao nộp đầy đủ và được công khai đúng thủ tục. Qua hòa giải các đương sự đã không thỏa thuận được với nhau, vụ án được đưa ra xét xử là đúng quy định của pháp luật.
[2]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Xét yêu cầu của nguyên đơn Công ty S yêu cầu công ty T2 thanh toán số tiền hàng chưa thanh toán theo Hợp đồng kinh tế số 010706/SMC/HĐBT-18 ngày 07/06/2018 là 169.932.500 đồng. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn công ty T2 có lời trình bày thống nhất với nguyên đơn về việc ký kết Hợp đồng kinh tế số 010706/SMC/HĐBT-18 ngày 07/06/2018, đồng thời xác nhận còn nợ Công ty S số tiền 169.932.500 đồng, đến nay vẫn chưa thanh toán. Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền 169.932.500 đồng là có căn cứ.
[3]. Về lãi suất:
Nguyên đơn yêu cầu trả lãi suất chậm trả với mức lãi suất 9%/năm từ ngày 17/6/2019.
Theo khoản 1 Điều 3 Hợp đồng kinh tế số 010706/SMC/HĐBT-18 ngày 07/06/2018 thì Công ty T2 có trách nhiệm thanh toán 100% giá trị cho Công ty S trong vòng 05 ngày kể từ ngày tổng hợp khối lượng; ngày Công ty S tổng hợp khối lượng và xuất hóa đơn sau cùng là 11/06/2019 nên thời hạn cuối cùng Công ty T2 thanh toán theo thỏa thuận trong hợp đồng là ngày 16/06/2019, như vậy Công ty SMC yêu cầu trả lãi chậm thanh toán kể từ ngày 17/06/2019 là phù hợp nên HĐXX chấp nhận.
Đối chiếu với thỏa thuận lãi suất chậm thanh toán tại Điều 3 Hợp đồng kinh tế số 010706/SMC/HĐBT-18 ngày 07/06/2018 thì mức lãi suất 9%/năm do nguyên đơn yêu cầu là có lợi cho bị đơn nên HĐXX xem xét ghi nhận.
Lãi suất phát sinh được tính như sau (từ ngày 17/6/2019 đến 13/8/2024):
169.932.500 đồng x 9%/năm x 05 năm 01 tháng 26 ngày = 78.848.680 đồng [5]. Bị đơn có ý kiến xin không trả lãi suất phát sinh và xin được trả dần số tiền gốc do công ty đang gặp khó khăn trong kinh doanh, việc này không được nguyên đơn đồng ý. Xét thấy, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo như thỏa thuận trong hợp đồng, thời gian vi phạm cũng đã lâu do đó để đảm bảo quyền lợi cho nguyên đơn cần buộc bị đơn có nghĩa vụ phải trả số tiền gốc và lãi suất do chậm thanh toán cho nguyên đơn là phù hợp.
Như vậy, công ty T2 có trách nhiệm thanh toán cho Công ty S tổng số tiền là 248.781.180 đồng (trong đó tiền nợ gốc là: 169.932.500 đồng; tiền lãi tính đến ngày 13/8/2024 là: 78.848.680 đồng).
[5]. Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An về việc chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[6]. Về án phí: Công ty T2 phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, 483, Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 50, 306 Luật Thương mại;
Căn cứ Điều 11, Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần S đối với Công ty cổ phần T2 về việc tranh chấp “Hợp đồng mua bán”.
Buộc Công ty cổ phần T2 có trách nhiệm thanh toán cho Công ty cổ phần S số tiền là 248.781.180 đồng - Hai trăm bốn mươi tám triệu bảy trăm tám mươi mốt ngàn một trăm tám mươi đồng (trong đó tiền nợ gốc là: 169.932.500 đồng; tiền lãi tính đến ngày 13/8/2024 là: 78.848.680đồng).
Khi án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong số tiền trên, bên có nghĩa vụ chậm thi hành sẽ phải chịu thêm khoản tiền lãi tính trên số tiền chậm trả theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 306 Luật Thương mại năm 2005.
2. Về án phí: Buộc Công ty cổ phần T2 nộp 12.439.000 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm sung Ngân sách Nhà nước.
H lại cho Công ty cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 6.126.000 đồng theo biên lai số 0008062 ngày 23/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa.
Án xử sơ thẩm và tuyên án công khai, đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự
Bản án về tranh chấp hợp đồng mua bán số 13/2024/KDTM-ST
| Số hiệu: | 13/2024/KDTM-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Đức Hòa - Long An |
| Lĩnh vực: | Kinh tế |
| Ngày ban hành: | 13/08/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về