Bản án về tranh chấp hợp đồng mua bán số 01/2024/KDTM-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH

BẢN ÁN 01/2024/KDTM-ST NGÀY 02/04/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN

Ngày 02 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 08/2023/TLST – KDTM, ngày 13 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2024/QĐXXST- DS, ngày 15 tháng 02 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Cưa xẻ gỗ M A; địa chỉ trụ sở: Ấp B, xã H, huyện B, tỉnh Tây Ninh;

Người đại diện theo pháp luật: Ông Tiêu Văn S, sinh năm 1984 – Chức vụ: Giám đốc, vắng mặt;

Người đại diện theo ủy quyền của ông Tiêu Văn S: Bà Tiêu Thị Thảo N, sinh năm 1988; cư trú tại: Ấp Hòa Bình, xã Hòa Hiệp, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh (Văn bản ủy quyền ngày 02/11/2023), vắng mặt.

- Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn sản xuất Thương mại và Dịch vụ A C; địa chỉ trụ sở: Số 86 đường số ab, khu dân cư CL, phường 7, quận V, Thành phố Hồ Chí Minh;

Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Quang M, sinh năm 1970 – Chức vụ: Giám đốc, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 07 tháng 11 năm 2023 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Tiêu Thị Thảo N trình bày:

Công ty Trách nhiệm hữu hạn Cưa xẻ gỗ M A (gọi tắt là Công ty M A) được thành lập và hoạt động theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 3901242352 do Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Tây Ninh cấp lần đầu ngày 23/5/2017 do ông Tiêu Văn S làm người đại diện theo pháp luật của công ty. Ngày 17/3/2023 Công ty M A có ký kết Hợp đồng kinh tế về việc “Mua phôi cao su” số: 07/2023/ACTN với Chi nhánh Công ty Trách nhiệm hữu hạn sản xuất Thương mại và Dịch vụ A C (gọi tắt là Công ty A C) - Nhà máy A C Tây Ninh (sau đây gọi tắt là chi nhánh A C do người đại diện Công ty A C là ông Cao Minh H, chức vụ Phó Giám đốc.

Hai bên thỏa thuận Công ty M A sẽ bán phôi gỗ cao su ABC đã qua xử lý, tẩm sấy chống mối mọt, độ ẩm 8-12%, đơn giá theo từng thời điểm, thời hạn thanh toán tiền trong vòng 20 ngày kể từ ngày có biên bản đối chiếu giao nhận hàng. Quá trình thực hiện hợp đồng số: 07/2023/ACTN, Công ty M A đã giao đủ số lượng gỗ, tuy nhiên Công ty A C chậm và không thanh toán tiền hàng cho Công ty M A cụ thể như sau:

+ Từ ngày 17/3/2023 đến ngày 28/3/2023, Công ty M A đã bán cho Công ty A C mặt hàng cao su 21 dài 400 UP tổng cộng 115.2597m3, giá 4.900.000 đồng trên mét khối, tổng tiền là 564.772.530 đồng (theo bảng thống kê công nợ gỗ cao su ngày 31/3/2023);

+ Từ ngày 07/4/2023 đến ngày 12/4/2023, Công ty M A đã bán cho Công ty A C mặt hàng cao su 21 dài 400 UP tổng cộng 77.5077m3, giá 4.900.000 đồng trên mét khối, tổng tiền là 379.784.300 đồng, (theo bảng thống kê công nợ gỗ cao su ngày 12/4/2023);

+ Từ ngày 01/6/2023 đến ngày 17/6/2023, Công ty M A đã bán cho Công ty A C mặt hàng cao su 21, tổng cộng 54.3026m3, tổng tiền là 270.514.760 đồng, (theo bảng thống kê công nợ gỗ cao su ngày 17/6/2023).

Tổng cộng Công ty A C nợ Công ty M A số tiền 1.215.071.590 đồng, sau nhiều lần nhắc nợ Công ty A C có trả cho Công ty M A tổng số tiền 493.950.570 đồng, trong đó ngày 08/5/2023 trả 150.000.000 đồng, ngày 07/6/2023 trả 50.000.000 đồng, ngày 15/6/2023 trả 125.000.000 đồng, ngày 17/6/2023 trả 150.000.000 đồng và tháng 9 năm 2023 Công ty M A mua Công ty A C 05 xe củi trị giá 18.950.570 đồng để đốt lò nên đã tính trừ vào tiền nợ của Công ty A C. Như vậy Công ty A C còn nợ Công ty M A số tiền 721.121.020 đồng. Sau khi tính toán tiền nợ ngày 04/10/2023 ông Hà Đam D – Giám đốc Công ty A C có làm “Giấy hẹn” thể hiện “Tính đến ngày 04/10/2023 Nhà máy A C Tây Ninh còn nợ chưa thanh toán 721.121.020 đồng...Qua giấy hẹn này Nhà máy A C Tây Ninh xin được gia hạn thêm thời gian thanh toán từ ngày 15/10/2023 đến ngày 20/10/2023 sẽ thanh toán toàn bộ số tiền nợ là 721.121.020 đồng…” có đề chữ ký ghi rõ họ tên đóng dấu Nhà máy A C Tây Ninh. Sau khi làm giấy hẹn từ ngày 15/10/2023 đến ngày 20/10/2023 Công ty A C vẫn không thanh toán tiền cho Công ty M A.

Nay Công ty M A khởi kiện yêu cầu Công ty A C có trách nhiệm hoàn trả số tiền 721.121.020 đồng, không yêu cầu tính tiền lãi.

Bị đơn Công ty A C và người đại diện theo pháp luật ông Hà Đam D, ông Dương Quang M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng trong quá trình giải quyết vụ án.

* Tại phiên toà sơ thẩm:

- Nguyên đơn Công ty M A và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Tiêu Thị Thảo N vắng mặt đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt;

- Bị đơn Công ty A C và người đại diện theo pháp luật ông Dương Quang M vắng mặt không có lý do chính đáng.

- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi vụ án thụ lý, quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán và tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ theo trình tự thủ tục của Bộ luật Tố tụng dân sự;

+ Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty M A về “Tranh chấp hợp đồng mua bán” đối với Công ty A C. Buộc Công ty A C có trách nhiệm hoàn trả cho Công ty M A số tiền 721.121.020 đồng. Ghi nhận Công ty M A không yêu cầu tính tiền lãi.

Về án phí: Công ty A C phải chịu 32.844.841 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

+ Về kiến nghị khắc phục: Không.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh nhận định:

[1] Về tố tụng:

- Về xác định tư cách đương sự và quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết:

Công ty Á Châu có trụ sở chính tại: 86, đường số 1, KDC CityLand, phường 7, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh; Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh tại Sở kế hoạch và đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh số: 0315319495, lần đầu ngày 15/10/2018, đăng ký thay đổi lần thứ 3 ngày 28/12/2020; đại diện theo pháp luật là ông Hà Đam Duy, chức danh: Giám đốc. Công ty Á Châu mở chi nhánh tại địa chỉ: Ấp Hòa Bình, xã Hòa Hiệp, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh và được Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Tây Ninh cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh số 0315319495-005 ngày 23/3/2022, tên chi nhánh: Chi Nhánh Công ty TNHH SX TM và dịch vụ Á Châu- Nhà máy Á Châu Tây Ninh, người đứng đầu Chi nhánh là ông Hà Đam Duy; ngày 22/01/2024 Công ty A C đăng ký thay đổi lần thứ 5 người đại diện theo pháp luật là ông Dương Quang M, do đó Tòa án xác định ông Dương Quang M là người đại diện theo pháp luật của Công ty A C;

Nguyên đơn Công ty M A khởi kiện bị đơn Công ty Á Châu trả tiền mua hàng (phôi gỗ cao su) chưa thanh toán, khoản nợ phát sinh từ hoạt động của chi nhánh. Căn cứ khoản 1, khoản 4 Điều 84 của Bộ luật Dân sự “Chi nhánh không có tư cách pháp nhân; pháp nhân có quyền, nghĩa vụ dân sự phát sinh từ giao dịch dân sự do chi nhánh xác lập, thực hiện”. Do đó xác định bị đơn là Công ty A C, không phải là Chi nhánh A C.

Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại, mua bán phôi gỗ cao giữa hai doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh và đều có mục đích lợi nhuận nên đây là tranh chấp kinh doanh thương mại về “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”.

Bị đơn Công ty Á Châu có trụ sở tại Quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh; có Chi nhánh tại huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh. Do bị đơn có Chi nhánh tại huyện Tân Biên, giao dịch mua bán hàng hóa phát sinh từ hoạt động của Chi nhánh và nguyên đơn lựa chọn Tòa án nơi “Tổ chức có chi nhánh” giải quyết nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh theo quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn Công ty M A và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Tiêu Thị Thảo N có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Nguyên. Bị đơn Công ty A C và người đại diện theo pháp luật ông Dương Quang M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn Công ty A C và người đại diện theo pháp luật của bị đơn là ông Dương Quang M.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty M A đối với bị đơn Công ty A C hoàn trả số tiền 721.121.020 đồng:

Hợp đồng mua bán giữa Công ty M A và Công ty A C là có thật thể hiện tại Hợp đồng kinh tế số: 07/2023/ACTN, ngày 17/3/2023 do Chi nhánh của Công ty A C thực hiện giao dịch mua bán phôi cao su với Công ty M A. Về hình thức hợp đồng được được lập dưới dạng văn bản, có đề chữ ký, họ tên, đóng dấu đại diện của hai công ty. Về nội dung hợp đồng hai bên thỏa thuận hàng hóa mua bán phôi gỗ cao su đã qua xử lý, tẩm sấy chống mối mọt, độ ẩm 8-12%, giá cả thỏa thuận theo thời điểm. Thời hạn thanh toán là trong vòng 20 ngày kể từ ngày có biên bản đối chiếu giao nhận hàng, căn cứ vào vào Điều 24 Luật Thương mại và căn cứ vào các Điều 430, 433, 434, 436 Bộ luật dân sự về hình thức và nội dung hợp đồng ký kết giữa hai Công ty là phù hợp với quy định của pháp luật.

Quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Tiêu Thị Thảo N trình bày Công ty M A đã giao đủ số lượng hàng hóa theo yêu cầu của Công ty A C sau khi ký kết Hợp đồng kinh tế số: 07/2023/ACTN, ngày 17/3/2023 được thể hiện tại: Bảng thống kê công nợ gỗ cao su đề ngày 31/3/2023 (Bút lục 36); Bảng thống kê công nợ gỗ cao su đề ngày 17/6/2023 (Bút lục 34); Bảng thống kê công nợ gỗ cao su đề ngày 12/4/2023 (Bút lục 35) với tổng số tiền 1.215.071.590 đồng. Bà Nguyên thừa nhận Công ty A C có trả cho Công ty M A số tiền 475.000.000 đồng và Công ty M A có mua Công ty A C 05 xe củi để đốt lò với số tiền 18.950.570 đồng. Như vậy 1.215.071.590 đồng - 493.950.570 đồng = 721.121.020 đồng là số tiền Công ty A C còn nợ. Mặt khác tại“Giấy hẹn” đề ngày 04/10/2023 được ông Hà Đam Duy ký tên, đóng dấu Chi nhánh thừa nhận còn nợ Công ty M A số tiền 721.121.020 đồng (Bút lục 37). Do đó lời trình bày theo ủy quyền của nguyên đơn thể hiện Công ty A C còn nợ Công ty M A số tiền 721.121.020 đồng là có căn cứ chấp nhận.

[3] Từ những nhận định nêu trên xét yêu cầu của Công ty M A là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận, buộc Công ty A C thanh toán cho Công ty M A số tiền 721.121.020 đồng, ghi nhận Công ty M A không yêu cầu tiền lãi.

Do đó xét đề nghị của Viện kiểm sát về nội dung vụ án là có căn cứ chấp nhận.

[4] Về án phí: Công ty A C phải chịu 32.844.841 đồng án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền Công ty M A được chấp nhận 721.121.020 đồng.

Công ty M A không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm do yêu cầu được chấp nhận.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Cứ khoản 1, khoản 2 Điều 50 Luật Thương mại; khoản 6 Điều 84, Điều 430 Bộ luật Dân sự; các Điều 147, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Cưa xẻ gỗ M A về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán” với bị đơn ông ty Trách nhiệm hữu hạn sản xuất Thương mại và Dịch vụ A C.

Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn sản xuất Thương mại và Dịch vụ A C có nghĩa vụ hoàn trả cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn Cưa xẻ gỗ M A số tiền 721.121.020 (bảy trăm hai mươi mốt triệu, một trăm hai mươi mốt nghìn, không trăm hai mươi) đồng. Ghi nhận Công ty Trách nhiệm hữu hạn Cưa xẻ gỗ M A không yêu cầu tính tiền lãi.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Cưa xẻ gỗ M A cho đến khi thi hành án xong, Công ty Trách nhiệm hữu hạn sản xuất Thương mại và Dịch vụ A C còn phải trả cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn Cưa xẻ gỗ M A số tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Về án phí: Công ty Trách nhiệm hữu hạn sản xuất Thương mại và Dịch vụ A C phải chịu 32.844.841 (ba mươi hai triệu, tám trăm bốn mươi bốn nghìn, tám trăm bốn mươi mốt) đồng án phí dân sự sơ thẩm Công ty Trách nhiệm hữu hạn Cưa xẻ gỗ M A không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả lại cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn Cưa xẻ gỗ M A 16.422.000 (mười sáu triệu, bốn trăm hai mươi hai nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0004528, ngày 13 tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

4. Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

121
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp hợp đồng mua bán số 01/2024/KDTM-ST

Số hiệu:01/2024/KDTM-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tân Biên - Tây Ninh
Lĩnh vực:Kinh tế
Ngày ban hành:02/04/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về