TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
BẢN ÁN 49/2024/DS-PT NGÀY 07/03/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA
Ngày 07 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 294/2023/TLPT-DS ngày 24/11/2023 về việc: “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 43/2023/DS-ST ngày 28/9/2023 của Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 33A/2024/QĐ-PT ngày 24/01/2024, Quyết định hoãn phiên tòa, giữa:
1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1977 (Có mặt) Địa chỉ: Thôn K, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
2. Bị đơn: Chị Trần Thị H, sinh năm 1977 (Có mặt) Địa chỉ: Tổ dân phố L, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của chị Trần Thị H: Anh Dương Văn H1, sinh năm 1970 (Có mặt);
Địa chỉ: Số C, C, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1975 (Có mặt) Địa chỉ: Thôn K, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
4. Người làm chứng: Anh Lư Văn N, sinh năm 1998 (vắng mặt) ĐKHKTT: Thôn N, xã B, huyện L, Bắc Giang.
- Người kháng cáo: Chị Trần Thị H là bị đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN
*Tại đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo nguyên đơn là anh Nguyễn Văn Đ trình bày:
Anh và chị Trần Thị H có quen biết từ việc mua bán lợn sống (lợn hơi) với nhau. Từ tháng 03/2022 đến tháng 08/2022, anh và chị H có thực hiện việc mua bán lợn sống (lợn hơi) với nhau nhiều lần. Anh Đ là người bán, chị H là người mua. Cụ thể các lần giao dịch như sau:
- Lần 1: Ngày 27/02/2022 (âm lịch) tức ngày 29/3/2022 (dương lịch): Anh giao cho chị H 09 con lợn bột (tổng 1193kg) thành tiền 65.000.000 đồng và 01 con lợn xề thành tiền là 10.600.000 đồng, tổng tiền chị H phải trả cho anh là 75.600.000 đồng. Mã này anh tự ghi chép sổ sách, chốt số cân chụp ảnh gửi qua zalo cho chị H. Sau đó chị H đã chuyển khoản thanh toán cho anh 50.000.000 đồng, còn nợ lại 25.600.000 đồng.
- Lần 2: Ngày 29/02/2022 (âm lịch) tức ngày 31/3/2022 (dương lịch): Anh giao cho chị H 07 con lợn (tổng 893kg) thành tiền 48.200.000 đồng, cộng nợ cũ 25.600.000 đồng, tổng tiền chị H phải trả cho anh là 73.800.000 đồng. Mã này anh tự ghi chép sổ sách, có chốt số cân, chốt giá tiền là 54.000 đồng/kg, chốt tổng tiền là 48.200.000 đồng, cộng với nợ cũ của mã trước là 25.600.000 đồng thành tổng tiền là 73.800.000 đồng. Anh chụp ảnh nội dung ghi chép như trên và gửi tin nhắn qua zalo cho chị H.
- Lần 3: Ngày 01/03/2022 (dương lịch) tức ngày 01/4/2022 (dương lịch): Anh giao cho chị H 10 con lợn (tổng 1201kg) thành tiền 64.850.000 đồng, cộng nợ cũ 73.800.000 đồng, tổng tiền chị H phải trả cho anh là 138.650.000 đồng. Mã này anh tự ghi chép sổ sách, có chốt số cân, chốt giá tiền là 54.000 đồng/kg, chốt tổng tiền là 64.850.000 đồng, cộng với nợ cũ của mã trước là 73.800.000 đồng, thành tổng tiền chị H phải trả cho anh là 138.650.000 đồng. Anh có chụp ảnh nội dung ghi chép như trên và gửi tin nhắn với nội dung là “Chị tí nữa chuyển tiền cho em nhé” gửi qua zalo cho chị H vào ngày 01/4/2022 (dương lịch), sau đó chị H có xác nhận lại nội dung “OK”. Đến ngày 02/4/2022 (dương lịch) chị H chuyển khoản thanh toán cho anh 70.000.000 đồng.
- Lần 4: Ngày 04/03/2022 (âm lịch) tức ngày 04/4/2022 (dương lịch): Anh giao cho chị H 11 con (tổng 1264kg) thành tiền 66.990.000 đồng, cộng nợ cũ 68.650.000 đồng, tổng tiền chị H phải trả cho anh là 135.640.000 đồng. Mã này anh tự ghi chép sổ sách, chốt số cân, chốt giá tiền là 53.000 đồng/kg, chốt tổng tiền là 66.990.000 đồng, cộng với nợ cũ của mã trước là 68.650.000 đồng, thành tổng tiền chị H phải trả cho anh là 135.640.000 đồng và trong sổ anh Đ ghi chép có ghi nội dung “tổng nợ 135.640 chưa thanh toán” tức là anh chốt chị H còn nợ anh Đ 135.640.000 đồng tiền mua lợn hơi chưa thanh toán cho anh. Anh Đ có chụp ảnh nội dung ghi chép như trên và gửi tin nhắn qua zalo cho chị H vào ngày 04/4/2022 (dương lịch).
- Lần 5: Ngày 07/04/2022 (dương lịch): Anh giao cho chị H 10 con (tổng 1126kg) thành tiền 63.050.000 đồng, cộng nợ cũ 135.640.000 đồng, tổng tiền chị H phải trả cho anh là 198.690.000 đồng. Mã này anh tự ghi chép sổ sách, có chốt số cân, chốt giá tiền là 56.000 đồng/kg, chốt tổng tiền là 63.050.000 đồng, cộng với nợ cũ của mã trước là 135.640.000 đồng, thành tổng tiền chị H phải trả anh là 198.690.000 đồng và anh ghi nội dung “chiều chị gửi tiền cho em nhé”. Anh chụp ảnh nội dung ghi chép như trên và gửi tin nhắn zalo cho chị H vào ngày 07/4/2022. Sau khi nhận được tin nhắn zalo của anh chị H có nhắn tin lại trả lời anh Đ với nội dung là “toàn lợn bé thế” thì anh Đ có nhắn tin lại cho chị H là “Đẹp đấy chị ạ”. Sau đó 02 bên không trao đổi nội dung gì khác với nhau. Cùng ngày 07/4/2022 (dương lịch) chị H có chuyền khoản thanh toán cho anh số tiền 100.000.000 đồng.
- Lần 6: Ngày 08/04/2022 (dương lịch): Anh giao cho chị H 07 con (tổng 727kg) thành tiền 38.500.000 đồng, cộng nợ cũ 98.600.000 đồng, tổng tiền chị H phải trả cho anh là 137.100.000 đồng. Mã này anh Đ tự ghi chép sổ sách, có chốt số cân là 727kg, chốt giá tiền là 53.000 đồng/kg, chốt tổng tiền là 38.500.000 đồng, cộng với nợ cũ của mã trước là 98.600.000 đồng. Tổng nợ 137.100.000 đồng. Anh Đ có chụp ảnh nội dung ghi chép như trên và gửi tin nhắn zalo cho chị H vào ngày 08/4/2022 (dương lịch).
- Lần 7: Ngày 09/4/2022 (dương lịch): Anh giao cho chị H 13 con (tổng 1609kg) thành tiền 90.100.000 đồng, cộng nợ cũ 137.100.000 đồng, tổng tiền chị H phải trả anh là 227.200.000 đồng. Mã này anh tự ghi chép sổ sách, có chốt số cân là 1609kg, chốt giá tiền là 56.000 đồng/kg, chốt tổng tiền là 90.100.000 đồng, cộng với nợ cũ của mã trước là 137.100.000 đồng, tổng tiền chị H phải trả cho anh là 227.200.000 đồng, anh bớt 2.200.000 đồng còn nợ 225.000.000 đồng. Anh có chụp ảnh nội dung ghi chép như trên và gửi tin nhắn zalo cho chị H vào ngày 10/4/2022 (dương lịch). Đến ngày 11/4/2022 (dương lịch) chị H chuyển khoản thanh toán cho anh 100.000.000 đồng.
- Lần 8: Ngày 11/04/2022 (dương lịch): Anh giao cho chị H 11 con (tổng 1501kg) thành tiền 82.550.000 đồng, cộng nợ cũ 125.000.000 đồng, tổng tiền chị H phải trả anh là 157.550.000 đồng. Mã này anh tự ghi chép sổ sách, có chốt số cân là 1501kg, chốt giá tiền là 55.000 đồng/kg, chốt tổng tiền là 82.550.000 đồng, cộng với nợ cũ của mã trước là 125.000.000 đồng, tổng tiền chị H phải trả cho anh là 157.550.000 đồng. Anh có chụp ảnh nội dung ghi chép như trên và gửi tin nhắn zalo cho chị H.
- Lần 9: Ngày 13/04/2022 (dương lịch): Anh giao cho chị H 11 con (tổng 1320kg) thành tiền 72.600.000 đồng, cộng nợ cũ 157.500.000 đồng, cộng tiền cáng lợn 700.000 đồng. Tổng tiền chị H phải trả cho anh là 230.800.000 đồng. Mã này anh tự ghi chép sổ sách, có chốt số cân là 1320kg, chốt giá tiền là 55.000 đồng/kg, chốt tổng tiền là 72.600.000 đồng, cộng với nợ cũ của mã trước là 157.500.000 đồng, cộng tiền cáng lợn 700.000 đồng. Tổng tiền chị H phải trả cho anh là 230.800.000 đồng. Anh có chụp ảnh nội dung ghi chép như trên và gửi tin nhắn zalo cho chị H. Kèm theo anh Đ có gửi tin nhắn cho chị H với nội dung là “Chị tý dảnh thì chuyển tiền cho em để mai em đi bắt lợn nhé”.
- Lần 10: Ngày 15/04/2022 (dương lịch): Anh giao cho chị H 10 con (tổng 979kg) thành tiền 51.880.000 đồng, cộng nợ cũ 230.800.000 đồng. Tổng tiền chị H phải trả anh là 282.680.000 đồng. Mã này anh tự ghi chép sổ sách, có chốt số cân là 979kg, chốt giá tiền là 53.000 đồng/kg, chốt tổng tiền là 51.880.000 đồng, cộng với nợ cũ của mã trước là 230.800.000 đồng. Tổng tiền chị H phải trả cho anh là 282.680.000 đồng. Anh chụp ảnh nội dung ghi chép như trên và gửi tin nhắn zalo cho chị H vào ngày 16/4/2022 (dương lịch). Sau khi nhận được tin nhắn zalo của anh chị H có nhắn tin lại cho anh với nội dung “lợn hôm nay tính giá 52 thôi, xấu như con ma mỡ thịt mỏng xương to”. Sau đó ngày 16/4/2022 (dương lịch) chị H chuyển khoản thanh toán cho anh số tiền 100.000.000 đồng.
- Lần 10: Ngày 17/04/2022 (dương lịch): Anh giao cho chị H 15 con (tổng 1474kg) thành tiền 81.070 đồng, cộng nợ cũ 182.680.000 đồng, tổng tiền chị H phải trả cho anh là 263.750.000 đồng. Mã này anh tự ghi chép sổ sách, có chốt số cân là 1474kg, chốt giá tiền là 55.000 đồng/kg, chốt tổng tiền là 81.070.000 đồng, cộng với nợ cũ của mã trước là 182.680.000 đồng. Tổng tiền chị H phải trả cho anh là 263.750.000 đồng. Anh có chụp ảnh nội dung ghi chép như trên và gửi tin nhắn zalo cho chị H. Mã này chị H có trả trước anh 1.750.000 đồng và chuyển khoản thanh toán cho anh số tiền 100.000.000 đồng vào ngày 17/4/2022 (dương lịch), anh chốt số tiền chị H còn nợ lại anh là 162.000.000 đồng.
- Lần 11: Ngày 19/04/2022 (dương lịch): Anh giao cho chị H 06 con (tổng 663kg) thành tiền 37.100.000 đồng, cộng nợ cũ 162.000.000 đồng. Tổng tiền chị H phải trả cho anh là 199.100.000 đồng. Anh có ghi chép sổ sách với nội dung như trên và gửi tin nhắn zalo cho chị H.
- Lần 12: Ngày 20/04/2022 (dương lịch): Anh giao cho chị H 09 con (tổng 1017kg), thành tiền 55.900.000 đồng, cộng nợ cũ 199.100.000 đồng. Tổng tiền chị H phải trả cho anh là 255.000.000 đồng. Mã này anh tự ghi chép sổ sách, có chốt số cân là 1017kg, chốt giá tiền là 55.000 đồng/kg, chốt tổng tiền là 55.900.000 đồng, cộng với nợ cũ của mã trước là 199.100.000 đồng. Tổng tiền chị H phải trả cho anh là 255.000.000 đồng. Anh chụp ảnh nội dung ghi chép như trên và gửi tin nhắn zalo cho chị H. Sau khi nhận được tin nhắn của anh Đ chị H có nhắn lại cho anh về việc lợn xấu.
- Lần 13: Ngày 22/04/2022 (dương lịch): Anh giao cho chị H lợn xề và lợn bột tổng 1550kg, thành tiền 98.990.000 đồng, cộng nợ cũ 255.000.000 đồng. Tổng tiền chị H phải trả cho anh là 353.990.000 đồng. Mã này chị H chuyển khoản thanh toán 100.000.000 đồng, còn nợ lại 253.900.000 đồng. Anh tự ghi chép sổ sách, có chốt số cân là 1550kg, chốt giá tiền là 56.000 đồng/kg lợn bột, 46.000 đồng/kg lợn xề, chốt tổng tiền là 98.990.00.000 đồng, cộng với nợ cũ của mã trước là 255.000.000 đồng, chốt tổng tiền là 353.990.000 đồng. Anh chụp ảnh nội dung ghi chép như trên và gửi tin nhắn zalo cho chị H. Sau khi nhận được tin nhắn của anh chị H chuyển khoản thanh toán cho anh số tiền 100.000.000 đồng. Sau đó anh trừ vào khoản nợ của chị H và anh chốt số tiền chị H còn nợ anh tính đến ngày 22/4/2023 là 253.900.000 đồng và gửi ảnh qua zalo cho chị H.
- Lần 14: Ngày 24/04/2022 (dương lịch): Anh giao cho chị H 1425kg thành tiền 79.800.000 đồng, cộng nợ cũ 253.900.000 đồng. Tổng tiền chị H phải trả cho anh là 333.700.000 đồng. Mã này anh Đ tự ghi chép sổ sách, có chốt số cân là 1425kg, chốt giá tiền là 56.000 đồng/kg, chốt tổng tiền là 79.800.000 đồng, cộng với nợ cũ của mã trước là 253.900.000 đồng. Chốt tổng số tiền chị H phải trả cho anh là 333.700.000 đồng. Anh chụp ảnh nội dung ghi chép như trên và gửi tin nhắn zalo cho chị H. Sau khi nhận được tin nhắn của anh Đ đến khoảng ngày 26/4/2022 chị H chuyển khoản thanh toán cho anh số tiền 85.000.000 đồng qua tài khoản ngân hàng A và chị H có nhắn tin qua zalo cho anh Đ nội dung “trong tài khoản còn 85 triệu thôi, mai lại gửi”.
- Lần 15: Ngày 27/04/2022 (dương lịch): Anh giao cho chị H lợn bột thành tiền là 70.600.000 đồng, cộng nợ cũ thành tổng nợ 316.300.000 đồng. Mã này anh Đ tự ghi chép sổ sách, không rõ số cân, giá lợn mà chỉ chốt số tiền lợn chị H mua mới của anh là 70.600.000 đồng + nợ cũ chị H còn nợ tổng 316.300.000 đồng. Mã này anh không ghi cụ thể số con, số cân, giá tiền vì sau khi cân xong chị H đã nhận phiếu ghi mã cân, hai bên đã chốt tổng tiền phải trả của mã này là 70.600.000 đồng.
Ngày 28/4/2022, anh Đ có chụp ảnh nội dung ghi chép như trên và gửi tin nhắn zalo cho chị H nội dung “Tí hường ở chợ chuyển luôn tiền cho mình đi nhé không là mình toàn phải chịu lãi thôi”. Cùng ngày 28/4/2022, chị H đã chuyền khoản thanh toán cho anh số tiền 65.000.000 đồng. Sau khi nhận được tiền anh có ghi sổ sách là 316.300.000 đồng - 65.000.000 đồng, còn nợ lại 251.300.000 đồng và gửi tin nhắn zalo cho chị H được biết.
- Lần 16: Ngày 29/04/2022 (dương lịch): Anh giao cho chị H 1200kg lợn hơi thành tiền 67.200.000 đồng, cộng nợ cũ 251.300.000 đồng. Tổng tiền chị H phải trả cho anh là 318.500.000 đồng. Mã này anh tự ghi chép sổ sách, số cân là 1200kg, giá tiền tiền 56.000 đồng/kg thành tiền là 67.200.000 đồng, cộng nợ cũ 251.300.000 đồng. Chốt tổng tiền chị H phải trả cho anh là 318.500.000 đồng. Anh chụp ảnh nội dung ghi chép như trên và gửi tin nhắn zalo cho chị H. Đến ngày 30/4/2022 chị H chuyển khoản thanh toán cho anh số tiền 100.000.000 đồng.
- Lần 17: Ngày 30/04/2022 (dương lịch): Anh giao cho chị H 10 con lợn hơi (tổng 1105kg), thành tiền 61.880.000 đồng, cộng nợ cũ 218.500.000 đồng. Chốt tổng tiền chị H phải trả cho anh là 280.380.000 đồng. Mã này anh tự ghi chép sổ sách, số cân là 1105kg, giá tiền 56.000 đồng/kg, thành tiền là 61.880.000 đồng, cộng nợ cũ 218.500.000 đồng. Chốt tổng tiền chị H phải trả cho anh là 280.380.000 đồng. Anh chụp ảnh nội dung ghi chép như trên và gửi tin nhắn zalo cho chị H. Đến ngày 02/5/2022, chị H chuyển khoản thanh toán cho anh số tiền 80.000.000 đồng. Sau khi chuyển khoản chị H hỏi anh đã trừ số tiền 80.000.000 đồng cho chị chưa thì anh trả lời là đã trừ rồi và chụp ảnh việc ghi chép thể hiện đã trừ số tiền 80.000.000 đồng chị H chuyển khoản như bản ảnh anh cung cấp cho Tòa án theo giấy ghi ngày 30/4/2022 của anh ghi.
- Lần 18: Ngày 02/05/2022 (dương lịch): Anh giao cho chị H 16 con (tổng 1815kg), thành tiền 101.640.000 đồng, cộng nợ cũ 200.380.000 đồng. Chốt tổng tiền chị H phải trả cho anh là 302.020.000 đồng. Mã này anh tự ghi chép sổ sách, chụp ảnh nội dung ghi chép như trên và gửi tin nhắn zalo cho chị H. Anh có nhắn tin bảo chị H chuyền khoản, chị H nhắn tin xác nhận lại là “ok”.
- Lần 19: Ngày 04/05/2022 (dương lịch): Anh giao cho chị H 04 con lợn bột (tổng 452kg) thành tiền 25.300.000 đồng và 01 con lợn xề (tổng 259kg) thành tiền 11.900.000 đồng. Tổng tiền 36.200.000 đồng, cộng nợ cũ 302.000.000 đồng. Chốt tổng tiền chị H phải trả cho anh là 338.200.000 đồng. Mã này anh tự ghi chép sổ sách, đến ngày 05/5/2022 anh chụp ảnh nội dung ghi chép như trên và gửi tin nhắn zalo cho chị H.
- Lần 20: Ngày 06/05/2022 (dương lịch): Anh giao cho chị H 05 con (tổng 710kg) thành tiền 39.760.000 đồng, cộng nợ cũ 338.200.000 đồng. Chốt tổng tiền chị H phải trả cho anh là 377.960.000 đồng. Mã này anh tự ghi chép sổ sách sau đó anh chụp ảnh nội dung ghi chép như trên và gửi tin nhắn zalo cho chị H. Ngày 07/05/2022 chị H chuyển khoản thanh toán cho anh số tiền 100.000.000 đồng. Ngày 08/5/2022, anh đã trừ số tiền 100 triệu đồng chị H chuyển khoản, anh tự chốt vào sổ ghi chép của anh và chụp ảnh gửi qua zalo cho chị H có nội dung là 377.960.000 đồng - 100.000.000 đồng, còn nợ 227.960.000 đồng.
- Lần 21: Ngày 08/05/2022 (dương lịch): Anh giao cho chị H 1000kg lợn hơi thành tiền 56.000.000 đồng, cộng nợ cũ 227.960.000 đồng. Chốt tổng tiền chị H phải trả cho anh là 283.960.000 đồng. Mã này anh tự ghi chép sổ sách sau đó anh chụp ảnh nội dung ghi chép như trên và gửi tin nhắn zalo cho chị H, anh có bảo chị H chuyển tiền cho anh. Ngày 09/5/2022 chị H chuyền khoản thanh toán cho anh số tiền 100.000.000 đồng.
- Lần 22: Ngày 09/05/2022 (dương lịch): Anh Đ giao cho chị H 755kg lợn hơi thành tiền 43.030.000 đồng, cộng nợ cũ 183.960.000 đồng. Chốt tổng tiền chị H phải trả cho anh là 226.990.000 đồng, trừ 500.000 đồng (lợn sẹo) = 226.490.000 đồng. Mã này anh tự ghi chép sổ sách sau đó anh có chụp ảnh nội dung ghi chép như trên và gửi tin nhắn zalo cho chị H, anh có bảo chị H chuyển tiền cho anh. Ngày 09/5/2022 chị H chuyền khoản thanh toán cho anh số tiền 100.000.000 đồng.
- Lần 23: Ngày 10/05/2022 (dương lịch): Anh giao cho chị H 06 con lợn hơi (tổng 1002kg) thành tiền 50.550.000 đồng, cộng nợ cũ 226.490.000 đồng. Chốt tổng tiền chị H phải trả cho anh là 277.040.000 đồng - 600.000 đồng = 276.440.000 đồng. Mã này anh tự ghi chép sổ sách sau đó anh chụp ảnh nội dung ghi chép như trên và gửi tin nhắn zalo cho chị H.
- Lần 24: Ngày 12/05/2022 (dương lịch): Anh giao cho chị H 1285kg lợn hơi thành tiền 71.960.000 đồng, cộng nợ cũ 226.490.000 đồng. Chốt tổng tiền chị H phải trả cho anh là 298.450.000 đồng. Mã này anh tự ghi chép sổ sách sau đó anh chụp ảnh nội dung ghi chép như trên và gửi tin nhắn zalo cho chị H và anh Đ nhắn tin zalo bảo chị H là “Hường ơi chuyển tiền đi” thì chị H có trả lời là “mai nhé”.
- Lần 25: Ngày 16/05/2022 (dương lịch): Anh giao cho chị H lợn bột, mã này anh không ghi cụ thể số lượng con, giá tiền mà anh chỉ ghi tổng tiền chị H phải trả cho anh là 52.900.000 đồng + nợ cũ của mã trước là 298.450.000 đồng = 351.350.000 đồng. Mã này anh tự ghi chép sổ sách sau đó chụp ảnh nội dung ghi chép như trên gửi tin nhắn zalo cho chị H thì chị H chuyển khoản thanh toán cho anh số tiền 100.000.000 đồng. Anh trừ số tiền chị H chuyển khoản và chốt số tiền chị H còn nợ lại anh là 251.350.000 đồng. Mã này anh không ghi cụ thể số lượng, giá, tổng cân vì sau khi cân xong chị H đã nhận mã cân, hai bên thống nhất chốt tổng tiền là 52.900.000 đồng.
- Lần 26: Ngày 17/05/2022 (dương lịch): Anh giao cho chị H 930kg lợn hơi thành tiền 52.080.000 đồng + 238kg lợn bột thành tiền 19.900.000 đồng + 205kg lợn xề thành tiền 8.200.000 đồng. Tổng tiền 80.180.000 đồng + 251.350.000 đồng (nợ cũ) = 331.530.000 đồng. Mã này anh tự ghi chép sổ sách sau đó chụp ảnh nội dung ghi chép như trên và gửi tin nhắn zalo cho chị H.
- Lần 27: Ngày 21/05/2022 (dương lịch): Anh giao cho chị H tổng 633kg lợn hơi x 57.000 đồng/kg thành tiền 36.080.000 đồng, cộng nợ cũ 331.530.000 đồng. Chốt tổng tiền chị H phải trả cho anh là 367.610.000 đồng. Ngày 21/5/2022, chị H chuyển khoản thanh toán cho anh số tiền 100.000.000 đồng. Chị H còn nợ lại anh tổng số tiền là 267.610.000 đồng. Mã này anh tự ghi chép sổ sách sau đó chụp ảnh nội dung ghi chép như trên và gửi tin nhắn zalo cho chị H.
- Lần 28: Ngày 28/05/2022 (dương lịch): Anh giao cho chị H 14 con lợn hơi (tổng 1470kg) thành tiền 80.850.000 đồng, cộng nợ cũ 267.610.000 đồng. Tổng tiền chị H phải trả cho anh là 348.450.000 đồng. Ngày 28/5/2022 chị H chuyển khoản thanh toán cho anh số tiền 100.000.000 đồng. Chị H còn nợ lại anh số tiền 248.450.000 đồng. Mã này anh tự ghi chép sổ sách sau đó chụp ảnh nội dung ghi chép như trên và gửi tin nhắn zalo cho chị H.
- Lần 29: Ngày 02/06/2022 (dương lịch): Anh giao cho chị H 1285kg lợn hơi x 57.000 đồng/kg thành tiền 73.240.000 đồng, cộng nợ cũ 248.450.000 đồng. Tổng tiền chị H phải trả cho anh là 316.690.000 đồng, trừ tiền anh mua thịt, nội tạng của chị H thì chị H còn nợ lại anh số tiền 308.690.000 đồng. Mã này anh tự ghi chép sổ sách sau đó chụp ảnh nội dung ghi chép như trên và gửi tin nhắn zalo cho chị H.
- Lần 30: Ngày 03/06/2022 (dương lịch): Chị H chuyển khoản thanh toán cho anh số tiền 55.500.000 đồng, chị H có chụp ảnh giao dịch chuyển tiền thành công gửi qua zalo cho anh và chị H có nhắn lại nội dung là “tk còn mỗi bằng đấy, mai lại c”.
- Lần 31: Ngày 04/06/2022 (dương lịch): Anh giao cho chị H tổng 1285kg lợn hơi x 59.000 đồng/kg thành tiền 75.800.000 đồng, cộng nợ cũ 253.690.000 đồng. Tổng tiền chị H phải trả cho anh là 329.490.000 đồng. Mã này anh tự ghi chép sổ sách sau đó anh chụp ảnh nội dung ghi chép như trên và gửi tin nhắn zalo cho chị H. Anh Đ nhắn tin qua zalo gửi cho chị H với nội dung “Hường xem xong chuyển tiền cho mình nhé” thì chị H có nhắn tin trả lời anh là “mai tôi ck cho”.
Ngày 07/06/2022 chị H chuyển khoản thanh toán cho anh số tiền 100.000.000 đồng. Đến mã này anh tính chị H còn nợ anh số tiền 229.200.000 đồng.
- Lần 32: Ngày 14/08/2022 (dương lịch): Anh giao cho chị H 160kg x 40.000 đồng/kg thành tiền 6.400.000 đồng, chị H đã thanh toán xong mã này.
Tổng giữa anh và chị H giao dịch với nhau 32 lần, quá trình mua bán chị H có thanh toán cho anh nhưng đến nay còn nợ lại 227.000.000 đồng chưa trả anh. Anh yêu cầu chị H phải trả tổng số tiền là 227.000.000 đồng. Thực tế tổng số tiền của chị H còn nợ anh là 375.420.000 đồng nhưng do quá trình chốt sổ sách anh cộng nhầm nên anh không yêu cầu chị H phải trả số tiền 375.420.000 đồng, anh chỉ yêu cầu chị H phải trả số tiền tổng là 218.500.000d đồng.
- Về thỏa thuận giá lợn mua bán: Tất cả các lần mua bán giữa anh và chị H có thỏa thuận miệng với nhau, chị H gọi điện báo anh cần lấy số lượng, số cân lợn và anh báo giá chị H đồng ý thì anh giao lợn cho chị H. Anh và chị H không có văn bản, giấy tờ gì thỏa thuận về giá cả, số lượng trước khi mua. Nhưng sau mỗi lần giao lợn cho chị H thì anh tự chốt sổ chụp ảnh gửi qua zalo cho chị H biết để hai bên chốt với nhau.
- Về việc bàn giao lợn: Anh giao lợn cho chị H tại lò mổ lợn tại nhà của chị H; người nhận lợn lúc là chị H nhận, lúc thì anh N là người mổ lợn thuê cho chị H nhận. Ngoài ra, có khoảng hơn chục lần khi anh đến giao lợn cho chị H và cháu N không có ở lò mổ nên anh tự đổ lợn vào lò mổ cho nhà chị H, sau đó anh quay video gửi cho chị H, các lần này sau khi nhận được video chị H đều xác nhận lại cho anh, anh ghi sổ sách và chụp ảnh nội dung ghi chép gửi lại cho chị H.
- Về việc thanh toán tiền: Sau các lần anh giao lợn xong anh đều tự chốt sổ sách sau đó chụp ảnh gửi qua zalo cho chị H. Chị H xác nhận và thanh toán tiền cho anh bằng cách chuyển khoản. Chị H không thanh toán theo từng mã mà dồn nợ các mã, thường mỗi lần chuyển khoản thì chị H chuyển khoản từ 50-100 triệu đồng. Từ khi mua bán với nhau chị H chuyển khoản cho anh rất nhiều lần nên anh không nhớ tổng số chị H đã chuyển khoản cho anh bao nhiêu tiền, nhưng toàn bộ các mã chị H chuyển khoản anh đều đã in sao kê nộp bản ảnh cho Tòa án.
- Về tài khoản ngân hàng giao dịch giữa anh và chị H: số tài khoản của anh để nhận tiền của chị H chuyển khoản gồm 02 số tài khoản là: 2510205697188 của Ngân hàng A và số tài khoản 000005403996 của Ngân hàng TMCP ĐI đều chủ tài khoản là Nguyễn Văn Đ. số tài khoản của chị H để chuyển khoản cho anh thì anh không biết, vì chị H sử dụng nhiều số tài khoản thanh toán cho anh.
- Về tài khoản zalo anh và chị H liên lạc với nhau: Tài khoản zalo của anh là số điện thoại 0972.790.127; tài khoản zalo của chị H là số điện thoại 0968.969.009, anh lưu tài khoản zalo của chị H là “H ở C”. Ngoài ra, anh và chị H không liên lạc bằng tài khoản zalo nào khác.
- Về tài liệu, chứng cứ: Anh chỉ có sổ sách ghi chép của anh và các nội dung tin nhắn zalo, ngoài ra anh không có tài liệu, chứng cứ nào khác. Sổ sách ghi chép anh ghi theo mã giao cho chị H từng ngày và chụp ảnh gửi qua zalo cho chị H theo ngày.
Anh yêu cầu chị H phải trả tổng số tiền là 218.500.000đ, không yêu cầu tiền lãi.
*Tại các biên bản lay lời khai và các lời khai tiếp theo bị đơn là chị Trần Thị H:
Chị xác nhận từ tháng 3/2022 đến tháng 08/2022 giữa chị và anh Đ có mua bán lợn với nhau nhiều lần, 32 mã giao dịch như anh Đ khai là đúng (đúng về số lần giao dịch), lần lượt các mã giao dịch như trên anh Đ có chụp ảnh gửi tin nhắn zalo cho chị. Tuy nhiên, do chị không đọc, không hiểu nội dung tin nhắn anh Đ gửi nên chị không biết anh Đ ghi chép nội dung gì. Việc mua bán lợn giữa chị và anh Đ chỉ thỏa thuận miệng, không có văn bản, hợp đồng, chị không ghi chép sổ sách gì. Các mã anh Đ tự ghi chép sau đó anh Đ chụp ảnh gửi tin nhắn zalo cho chị. Trong đó, có một số mã chị có nhắn tin phản hồi lại với anh Đ về giá cả, chất lượng lợn.
Chị xác định đã thanh toán hết tiền cho anh Đ theo các lần mua bán với nhau. Chị thanh toán dứt điểm theo từng mã, nếu mã nào thiếu thì khoảng 2-3 ngày sau chị sẽ chuyển khoản đủ số tiền còn thiếu. Chị thanh toán bằng tiền mặt và qua hình thức chuyển khoản, chị không nhớ cụ thể các mã thanh toán nhưng thường chị chuyển khoản cho anh Đ số tiền từ 50 triệu đến 100.000.000 đồng.
Theo các tài liệu anh Đ và Ngân hàng cung cấp thì trong các lần chị thanh toán, còn ngày 04/5/2023 (dương lịch) chị chuyển khoản cho anh Đ 02 lần với tổng số tiền 180.000.000 đồng theo hai mã giao dịch của Ngân hàng TMCP Đ2 nhưng anh Đ không trừ số tiền này cho chị dẫn đến việc chốt nợ sai của chị. Đến nay không còn khoản tiền nào chị chưa thanh toán cho anh Đ. Quá trình giải quyết vụ án chị không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì. Nay anh Đ khởi kiện yêu cầu chị phải trả số tiền 227.000.000 đồng chị không đồng ý.
*Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị H2 trình bày: Việc mua bán lợn giữa anh Đ và chị H chị không trực tiếp tham gia giao dịch, mua bán với chị H nhưng chị có biết trong năm 2022 anh Đ giao lợn cho chị H, tiền vốn anh Đ sử dụng để mua bán lợn là tiền chung của gia đình chị. Nay anh Đ khởi kiện yêu cầu chị H phải trả số tiền 227.000.000 đồng, chị nhất trí và thống nhất với toàn bộ ý kiến của anh Đ.
*Người làm chứng là anh Lư Văn N trình bày: Anh và anh Đ, chị H không có mối quan hệ họ hàng, không có thù hằn cá nhân gì. Anh làm mổ lợn thuê cho chị Trần Thị H từ tháng khoảng tháng 8/2020 (âm lịch) đến nay. Chị H giao cho anh là nếu ông Đ đến giao lợn thì anh nhận lợn thay cho bà H. Khoảng năm 2022, ông Đ nhiều lần giao lợn cho bà H, nhưng anh không nhớ cụ thể số lần lần giao, thời gian giao, số lượng giao. Nếu anh nhận lợn thì anh là người trực tiếp đi cùng ông Đ lên trạm cân điện tử ở khu vực ngã ba N để cân lợn. Khi cân anh và ông Đ cùng kiểm tra mã cân, số cân và mỗi lần cân thì trạm cân có in mã cân ra sau đó ông Đ đưa luôn cho anh mã cân và về anh giao ngay cho bà H toàn bộ các mã cân, anh không vào sổ sách, không lưu giữ gì.
Về loại lợn ông Đ giao là lợn sề, lợn bột tùy từng đợt do bà H và ông Đ tự thỏa thuận với nhau, về số lượng cân lợn các lần ông Đ giao cho bà H thì anh không nhớ, vì mỗi lần cân xong anh đều giao mã cân cho bà H. Các lần anh giao lại mã cân cho bà H thì bà H đều không có ý kiến gì phản hồi lại với anh. về giá cả, việc chốt sổ sách và thanh toán tiền anh không tham gia gì. Nay ông Đ khởi kiện yêu cầu bà H phải trả số tiền 227.000.000 đồng, đây là việc mua bán của ông Đ và bà H anh không liên quan đến anh nên anh không có ý kiến gì.
Do có nội dung trên, bản án dân sự sơ thẩm số 43/2023/DS-ST ngày 28/9/2023 của Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 92; Điều 147; Điều 229; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 119, Điều 430, Điều 433, Điều 440, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, xử:
1. Buộc chị Trần Thị H phải trả cho anh Nguyễn Văn Đ tổng số tiền là 218.500.000 đồng (Hai trăm mười tám triệu năm trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.
2. Về án phí: Chị Trần Thị H phải chịu 10.925.000 đồng (Mười triệu chín trăm hai mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Trả lại anh Nguyễn Văn Đ số tiền 5.675.000 đồng tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai số 0003932 ngày 28/3/2023 anh Đ đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6; 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Ngoài ra, bản án còn tuyên quyền kháng cáo cho các bên đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 09/10/2023 chị Trần Thị H gửi đơn kháng cáo qua dịch vụ bưu chính đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang hủy toàn bộ bản án sơ thẩm số 43/2023/DS-ST ngày 28/9/2023 của Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang, không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn Đ.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn là anh Nguyễn Văn Đ vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn là chị Trần Thị H giữ nguyên nội dung kháng cáo. Các đương sự không thể thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
+ Chị Trần Thị H và anh Dương Văn H1 là người đại diện theo ủy quyền của chị H đã trình bày: Chị H đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét hủy bản án sơ thẩm của Tòa án huyện L, tỉnh Bắc Giang. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn trên cơ sở căn cứ vào sổ ghi chép do nguyên đơn tự viết ra, không có mặt của chị H, không có đối chiếu giữa các bên, chưa làm rõ chị H đã trả cho nguyên đơn bao nhiêu tiền. Đối với tài liệu chị H xuất trình là sổ ghi chép của chị H về quá trình mua bán lợn của anh Đ thì Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận sổ ghi chép của chị H đối trừ số nợ cho chị H là không đảm bảo.
+ Anh Nguyễn Văn Đ trình bày: Anh không đồng ý với nội dung kháng cáo của chị H. Anh khẳng định chị H còn nợ anh tổng số tiền là 218.500.000đ đến nay chưa thanh toán. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang không chấp nhận toàn bộ nội dung kháng cáo của chị H, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị H2 trình bày: Chị H2 đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang không chấp nhận nội dung kháng cáo của chị H.
Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang và các đương sự đã chấp hành đầy đủ các trình tự, thủ tục của BLTTDS.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản khoản 1 Điều 308 BLTTDS giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 43/2023/DS-ST ngày 28/9/2023 của Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Chị H phải chịu 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, xét kháng cáo của chị Trần Thị H, thấy:
[1] Về sự vắng mặt của người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người trên đảm theo quy định tại Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về hình thức giao dịch mua bán: Anh Nguyễn Văn Đ và chị Trần Thị H đều thừa nhận hai bên thực hiện giao dịch mua bán lợn hơi theo hình thức thỏa thuận miệng, không lập hợp đồng bằng văn bản và mọi giao dịch hai bên đều trao đổi qua mạng zalo (gọi điện thoại và gửi tin nhắn, hình ảnh) anh Đ sử dụng số điện thoại zalo là 0972.790.127, chị H sử dụng số điện thoại zalo là 0968.969.009 đề liên lạc, trao đổi thông tin về việc mua bán lợn hơi.
[2.2] Về quy trình mua bán lợn: Quy trình mua, bán lợn giữa anh Đ và chị H được thực hiện như sau: Anh Đ và chị H trao đổi về số lượng và loại lợn chị H cần mua, giá cả của từng loại, sau đó anh Đ chở lợn đến giao cho chị H bằng cách giao trực tiếp cho chị H hoặc giao cho anh Lư Văn N là người làm công cho chị H đi nhận mã cân tại trạm cân điện tử chỗ quen của chị H sau đó chuyển lợn vào lò mổ của chị H, anh Đ thông báo cho chị H các mã cân, giá cả, số tiền cần thanh toán qua zalo của chị H để chị H thanh toán tiền cho anh Đ.
Quá trình thực hiện giao dịch mua bán lợn anh Đ và chị H đều thừa nhận có thực hiện với nhau 32 mã giao dịch từ tháng 3 năm 2022 đến ngày 14 tháng 8 năm 2022 (ngoài ra còn có 04 mã giao dịch sau ngày 14/8/2022 nhưng các bên đều thừa nhận đã thanh toán đầy đủ, không có tranh chấp và không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết).
[2.3] Về việc chốt tiền nợ và thanh toán tiền: Các lần giao dịch anh Đ vào sổ ghi chép của anh Đ cụ thể về số lượng, số cân, số con, giá tiền, tổng tiền, chốt số tiền chị H còn nợ của giao dịch trước đó, số tiền của giao dịch trong ngày và tổng số tiền chị H đã trả, còn nợ bao nhiêu tiền và chụp ảnh mã giao dịch được anh Đ ghi chép trong sổ gửi zalo cho chị H để chốt nợ, yêu cầu chị H thanh toán, sau đó chị H mới chuyển tiền qua tài khoản ngân hàng cho anh Đ, mỗi mã chị H chuyển tiền cho anh Đ thì chị H đều gửi hình ảnh giao dịch cho anh Đ.
Chị H cho rằng anh Đ vào sổ sách theo dõi và chốt sổ không đúng, có 03 mã chị H không nhận lợn nhưng anh Đ vẫn ghi vào sổ theo dõi và tính tiền. Tuy nhiên, chị H không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho sự phản đối của mình. Mặt khác, trong số các mã anh Đ chốt sổ gửi zalo cho chị H thì có 01 mã ngày 01/4/2022 chị H xác nhận “ok” hoặc có mã chị H phản ánh lại về giá cả, chất lượng (mã giao dịch tin nhắn zalo ngày 16/4/2022 tại bút lục 69, ngày 21/4/2022 tại bút lục 63) các mã còn lại chị H không có phản hồi lại về việc không đồng ý với mã thanh toán nào và chị H vẫn chuyển tiền cho anh Đ sau khi anh Đ chốt sổ. Bên cạnh đó khi anh Đ gửi mã thanh toán, chị H đều chuyển tiền hoặc có lần nhắn với nội dung “mai tôi ck cho” (mã giao dịch ngày 04/6/2022) mà không có ý kiến phản đối gì về việc anh Đ chốt sổ dư nợ mã trước hay số tiền của mã mới.
Căn cứ các tài liệu chứng cứ do anh Đ và chị H cung cấp thì thấy sổ theo dồi về việc mua bán lợn của anh Đ được ghi chép liên tục theo từng ngày với những người mua khác nhau, tại mục ghi chép quá trình mua bán với chị H khớp với các mã anh Đ đã chụp và gửi tin nhắn zalo cho chị H. Mặt khác, số tiền chị H chuyển trả cho anh Đ được ghi tại các mã thanh toán chị H đều khẳng định anh Đ ghi đúng số tiền chị H chuyển khoản và phù hợp với sao kê của ngân hàng về các mã chị H chuyển tiền trả cho anh Đ. Chị H cho rằng ngoài các mã chị chuyển tiền cho anh Đ thì chị còn thanh toán bằng tiền mặt cho anh Đ nhưng chị H không nhớ trả bao nhiêu tiền mặt vào các mã thanh toán nào và không cung cấp được tài liệu chứng cứ đề chứng minh. Trong quá trình tham gia tố tụng lời khai của chị H có sự mâu thuẫn, tại biên bản đối chất (bút lục 188) chị H khẳng định chị mua bán và thanh toán đầy đủ tiền cho anh Đ nên chị không có sổ sách theo dõi. Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm chị H khẳng định chị H có sổ viết tay việc mua bán lợn với anh Đ và nộp cho Tòa án bản phô tô tài liệu ghi chép. Đánh giá chứng cứ mà chị H cung cấp thấy các mã mua bán và trả tiền chị H ghi sổ không chi tiết và không gửi xác nhận đối chiếu cho anh Đ nên không có căn cứ để chấp nhận.
Như vậy, có đủ cơ sở để khẳng định giữa anh Đ và chị H có thực hiện giao dịch mua bán lợn hơi với nhau từ tháng 3/2022 đến ngày 14/8/2022, chị H còn nợ anh Đ số tiền là 218.500.000d (Hai trăm mười tám triệu năm trăm nghìn đồng). Bản án dân sự sơ thẩm số 43/2023/DS-ST ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xử buộc chị H phải trả cho anh Đ số tiền 218.500.000đ (Hai trăm mười tám triệu năm trăm nghìn đồng) là phù hợp với quy định của pháp luật.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Vì kháng cáo của chị H không được chấp nhận nên chị H phải chịu 300.000đ tiền án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, xử: Không chấp nhận kháng cáo của Trần Thị H, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 43/2023/DS-ST ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
2. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Căn cứ khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, chị Trần Thị Hphải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) chị H đã nộp tại biên lai số 0000513 ngày 13/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. Chị H đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Bản án về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa số 49/2024/DS-PT
| Số hiệu: | 49/2024/DS-PT |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Bắc Giang |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Ngày ban hành: | 07/03/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về