Bản án về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá số 20/2022/KDTM-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B - TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 20/2022/KDTM-ST NGÀY 30/08/2022 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HOÁ

Ngày 30 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 36/2022/TLST-KDTM ngày 22 tháng 04 năm 2022 về tranh chấp “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2022/QĐXXST-KDTM ngày 11 tháng 7 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 113/2022/QĐST-KDTM ngày 01 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty Cổ phần DIC – Đ Địa chỉ: Lô 17, khu công nghiệp Nhơn Trạch 2, tỉnh lộ 25B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai Đại diện theo pháp luật: Ông Trần Anh Đ – Chức vụ Tổng giám đốc Đại diện theo uỷ quyền: Bà Phan Thị Ánh D, sinh năm 1997 (Văn bản uỷ quyền số 67/2022/UQ ngày 15 tháng 01 năm 2022) Địa chỉ liên hệ : Lô 17, khu công nghiệp Nhơn Trạch 2, tỉnh lộ 25B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai

- Bị đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn Một thành viên xây dựng L Địa chỉ: số 19, tổ 19, khu phố 3, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Ngọc Minh – Chức vụ: Chủ tịch công ty kiêm giám đốc.

Địa chỉ liên lạc: số 19, tổ 19, khu phố 3, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

 (bà D có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn bà Phan Thị Ánh D trình bày:

Ngày 19/05/2020, Công ty cổ phần Dic- Đ- Bên bán (gọi tắt là công ty Dic Đ) và Công ty TNHH MTV xây dựng L - Bên mua (gọi tắt là công ty L) đã ký kết các Hợp đồng nguyên tắc số 03NT/2020/HĐKT kèm theo Phụ lục hợp đồng số 01 ký ngày 18/06/2020 về việc mua bán bê tông thương phẩm phục vụ thi công công trình Khu du lịch Lagooda tại địa điểm Bình Châu, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu.

Từ khi giao kết hợp đồng, Công ty Dic Đ đã cấp bê tông thương phẩm cho Công ty L và xuất các Hóa đơn GTGT cho Công ty L làm cơ sở thanh toán, với tổng số tiền bê tông thương phẩm đã cấp tính theo đơn giá trên hợp đồng là: 1.482.238.000 đồng (Bằng chữ: Một tỷ, bốn trăm tám mươi hai triệu, hai trăm ba mươi tám nghìn đồng). Tính đến hết ngày 11/06/2021 Công ty L đã thanh toán cho Công ty Dic Đ với tổng số tiền là: 1.189.118.000 đồng (Một tỷ, một trăm tám mươi chín triệu, một trăm mười tám nghìn đồng). Số tiền còn lại mà Công ty L chưa thanh toán cho Công ty Dic Đ là: 293.120.000 đồng (Hai trăm chín mươi ba triệu, một trăm hai mươi nghìn đồng).

Nay, Công ty Dic Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai giải quyết buộc công ty L có trách nhiệm thanh toán cho Công ty Dic Đ số tiền nợ gốc là: 293.120.000 đồng (Hai trăm chín mươi ba triệu, một trăm hai mươi nghìn đồng) và tiền lãi trả chậm thanh toán tính theo lãi suất 1,125%/tháng tạm tính đến ngày 30/8/2022 là: 47.212.103 đồng (bốn mươi bảy nghìn, hai trăm mười hai nghìn, một trăm lẻ ba đồng). Tổng số tiền gốc và tiền lãi trả chậm thanh toán tạm tính đến ngày 30/8/2022 là: 340.332.103 đồng (Ba trăm bốn mươi triệu, ba trăm ba mươi hai nghìn, một trăm lẻ ba đồng).

Phía bị đơn Công ty TNHH MTV xây dựng L: Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng Công ty không đến Tòa án làm việc, tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, cũng như phiên tòa xét xử nên không có lời trình bày.

Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án được thực hiện đúng quy định. Bị đơn không chấp hành đúng quy định của pháp luật.

- Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Dic Đ buộc Công ty L thanh toán tổng số tiền 345.577.892 đồng cho Công ty Dic Đ. Công ty L phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ Công ty L đến tòa để tham gia các buổi làm việc, tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ nhưng Công ty L vẫn vắng mặt không lý do. Đại diện theo ủy quyền cho Công ty Dic Đ – bà Phan Thị Ánh D có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 207, 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bà D, Công ty L.

[2] Về thẩm quyền giải quyết: Công ty L có trụ sở tại phường L, thành phố B nên căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố B.

[3] Về nội dung vụ án: Trong quá trình giải quyết vụ án, mặc dù Tòa án không làm việc được với Công ty L nhưng căn cứ vào hợp đồng nguyên tắc số 03NT/2020/HĐNT ngày 19/05/2020, phụ lục hợp đồng ngày 18/6/2020; Thư báo giá; phiếu xuất kho; Hoá đơn giá trị gia tăng và các tài liệu chứng cứ khác có đủ cơ sở xác định Công ty L có nợ số tiền gốc còn lại số tiền nợ gốc là: 293.120.000 đồng (Hai trăm chín mươi ba triệu, một trăm hai mươi nghìn đồng) là có thật. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cũng đã niêm yết chứng cứ khởi kiện và các thủ tục tố tụng theo quy định nhưng Công ty L vẫn không có ý kiến phản hồi, do vậy nên xem như Công ty L đã từ chối cung cấp tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình và mặc nhiên thừa nhận nợ.

[4] Về lãi suất: Căn cứ theo mục 5.4 Điều V hợp đồng nguyên tắc số 03NT/2020/HĐNT ngày 19/05/2020 thì giữa công ty Dic Đ và công ty L có thỏa thuận mức lãi suất chậm thanh toán 1,25% . Tuy nhiên, Công ty Dic Đ chỉ yêu cầu mức lãi suất 1,125%/tháng; xét mức lãi phía công ty Dic Đ yêu cầu là phù hợp với quy định của pháp luật và có lợi cho bị đơn Công ty L. Do đó, chấp nhận mức lãi suất của nguyên đơn yêu cầu là 1.125%/tháng đến ngày 30/8/2022: 47.212.103 đồng (bốn mươi bảy nghìn, hai trăm mười hai nghìn, một trăm lẻ ba đồng).

Từ sự nhận định trên, căn cứ theo qui định tại các Điều 430, 431, 432, 440 Bộ luật dân sự năm 2015; Các Điều 24, 50, 306 của Luật thương mại và ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Dic Đ, buộc Công ty L phải thanh toán số tiền nợ gốc là: 293.120.000 đồng (Hai trăm chín mươi ba triệu, một trăm hai mươi nghìn đồng) và tiền lãi: 47.212.103 đồng (bốn mươi bảy nghìn, hai trăm mười hai nghìn, một trăm lẻ ba đồng). Tổng số tiền gốc và tiền lãi là:

340.332.103 đồng (Ba trăm bốn mươi triệu, ba trăm ba mươi hai nghìn, một trăm lẻ ba đồng).

[5] Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Công ty L phải chịu 17.016.605 đồng (mười bảy triệu, không mười sáu triệu, sáu trăm lẻ năm nghìn đồng) án phí sơ thẩm.

Hoàn trả lại cho Công ty Dic Đ số tiền 8.102.000 đồng (Tám triệu một trăm lẻ hai nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002411 ngày 21/04/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B.

[6] Quan điểm đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử sơ thẩm.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 30, 35, 39, 203, 207, 227, 228 và Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 430, 431, 432, 440 Bộ luật dân sự năm 2015;

Điều 24, 50, 306 Luật thương mại;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần Dic - Đ Buộc Công ty TNHH Một thành viên xây dựng L phải thanh toán cho Công ty Cổ phần Dic - Đ số tiền 293.120.000 đồng (Hai trăm chín mươi ba triệu, một trăm hai mươi nghìn đồng) và tiền lãi: 47.212.103 đồng (bốn mươi bảy nghìn, hai trăm mười hai nghìn, một trăm lẻ ba đồng). Tổng cộng: 340.332.103 đồng (Ba trăm bốn mươi triệu, ba trăm ba mươi hai nghìn, một trăm lẻ ba đồng).

2. Về trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ thi hành án: Trong trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

3.Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Công ty TNHH Một thành viên xây dựng L phải chịu 17.016.605 đồng (mười bảy triệu, không mười sáu triệu, sáu trăm lẻ năm nghìn đồng) án phí sơ thẩm.

Hoàn trả lại cho Công ty cổ phần Dic - Đ số tiền 8.102.000 đồng (Tám triệu một trăm lẻ hai nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002411 ngày 21/04/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B.

4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo qui định pháp luật.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 của Luật thi hành án dân sự. 

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

127
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá số 20/2022/KDTM-ST

Số hiệu:20/2022/KDTM-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Biên Hòa - Đồng Nai
Lĩnh vực:Kinh tế
Ngày ban hành:30/08/2022
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về