TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH
BẢN ÁN 02/2024/DS-ST NGÀY 29/03/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA
Trong ngày 29 tháng 3 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 07/2023/TLST-DS ngày 07/11/2023 về "Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2024/QĐXX-ST ngày 08/01/2024 giữa các đương sự:
*Nguyên đơn: Công ty TNHH S - Trụ sở: Km 5, đường P, phường A, quận D, thành phố Hải Phòng. - Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 020163xx29. Do Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hải Phòng cấp. - Đại diện theo pháp luật: Ông Chen Tai L - Chức vụ: Giám đốc. - Đại diện được ủy quyền: Bà Lê Thúy Q, Giám đốc Công ty L1. (Bà Q có mặt tại phiên tòa)
*Bị đơn: Công ty TNHH S1. Trụ sở: (Xóm C), thôn B, xã Đ, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình. Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 1001190919. Do Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Thái Bình cấp. Đại diện theo pháp luật: Bà Phí Thị H, sinh ngày 29/4/1972. Chức danh: Giám đốc. Nơi cư trú: (Xóm C), thôn B, xã Đ, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình. (Bà H vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án, Nguyên đơn Công ty TNHH S (sau đây viết tắt là Công ty S) trình bày: Công ty S chuyên sản xuất bao bì. Ngày 01/10/2021, Công ty S ký Hợp đồng nguyên tắc số HĐ 057/SV-HL/2021 và ngày 02/01/2023 ký Hợp đồng nguyên tắc số HĐ 048/SV-HL/2023 với nội dung: Công ty S bán hàng hóa gồm các loại hộp giấy cho Công ty TNHH S1 (sau đây viết tắt là Công ty S1). Sau khi giao hàng hàng tháng Công ty VICTORY đối chiếu hàng hóa và công nợ. Thanh toán tiền hàng trong vòng 60 ngày kể từ ngày nhận được hàng hóa. Đến ngày 15/10/2022, tổng số tiền hàng Công ty S1 đã mua là 2.130.548.400 đồng. Đến ngày 25/3/2023 Công ty S1 đã trả được số tiền 664.480.400 đồng. Cùng ngày 25/3/2023 Công ty S1 lấy thêm hàng với số tiền 5.500.000 đồng. Tổng cộng số tiền hàng Công ty S1 đã mua hàng là: 2.130.548.400 đồng + 5.500.000 đồng = 2.136.048.400 đồng. Nhưng từ tháng 5/2023 Công ty S1 không thanh toán tiền hàng hóa với tổng số tiền còn lại là 1.471.568.000 đồng. Nay Công ty S yêu cầu Công ty S1 thanh toán số tiền hàng hóa cho Công ty S là 1.471.568.000 đồng. Theo hợp đồng, Công ty S1 phải thanh toán tiền hàng hóa sau một tháng kể từ ngày nhận hàng hóa nhưng Công ty S1 đã không thực hiện vì vậy Công ty S yêu cầu Công ty S1 trả lãi suất 10%/ 1 năm tương đương với tháng trên số tiền 1.471.568.000 đồng kể từ ngày Công ty S thông báo trả nợ là ngày 17/5/2023 cho đến khi kết thúc xét xử. Trong Hợp đồng nguyên tắc số HĐ 057/SV-HL/2021 hai bên thỏa thuận"Mỗi bên thực hiện không đúng và không đầy đủ nghĩa vụ của mình theo hợp đồng này còn phải chịu một khoản phạt vi phạm hợp đồng với số tiền là 01 tỷ đồng." Tại phiên tòa Công ty S rút yêu cầu Công ty S1 phải chịu phạt một tỷ đồng do vi phạm hợp đồng
+ Bị đơn:
Bà Phí Thị H là địa diện của Công ty S1 qua các lần Tòa án triệu tập lên Tòa án để giải quyết tranh chấp nhung bà H đều vắng mặt không có lý do. Nên bà H không có lời khai tại Tòa án.
Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyên Đông Hưng:
Có đủ căn cứ khẳng định Công ty S1 còn nợ Công ty S tiền hàng là 1.471.568.000 đồng nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.
Về lãi phạt trả chậm: Căn cứ điều 306 luật Thương mại thì chấp nhận việc Nguyên đơn yêu cầu Bị đơn trả lãi phạt do vi phạm nghĩa vụ thanh toán, theo lãi suất nợ quá hạn trung bình tại thời điểm thanh toán, tương ứng với thời gian chậm trả. Việc phạt vi phạm 01 tỷ đồng do Công ty S rút yêu cầu nên Đình chỉ không giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
I/ Về tố tụng:
Bà Phí Thị H qua các lần Tòa án triệu tập lên Tòa án để giải quyết tranh chấp nhung bà H đều vắng mặt không có lý do. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định tại nơi cư trú của bà H.
Căn cứ vào Điểm b Khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử , xét xử vụ án theo thủ tục chung.
Việc bà Phí Thị H đại diện Công ty S1 không thực hiện nghĩa vụ chứng minh thì Công ty S1 phải chịu hậu quả theo quy định tại Khoản 25 Điều 70 của Bộ luật tố tụng dân sự và Toà án căn cứ vào Khoản 4 Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự để giải quyết vụ án theo chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ.
Tại Giấy đăng ký kinh doanh ghi trụ sở của Công ty đóng tại: xóm C, xã Đ, sau khi thực hiện về quy định của Chính phủ thì bỏ địa giới Hành chính của xóm. Vì vậy, xóm C, xã Đ nay thuộc thôn B, xã Đ. Tại thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình là nhà ở của gia đình bà Phí Thị H.
II/ Về nội dung:
[1] Công ty S và Công ty S1 ký hợp đồng mua bán hàng hóa trên cơ sở tự nguyện. Công ty S đã xuất bán hàng hóa có đầy đủ hóa đơn hàng hóa và giao hàng hóa đúng quy cách, đúng thời hạn, hàng hóa đều đảm bảo số lượng và chất lượng theo yêu cầu của Công ty S1. Do đó tổng số tiền hàng hóa mà Công ty S1 đã mua với số tiền tổng cộng là 2.136.048.400 đồng. Đến ngày 25/3/2023 Công ty S1 mới trả được số tiền 664.480.400 đồng. Công ty S1 còn nợ tiền hàng của Công ty S là 1.471.568.000 đồng. Công ty S đã sao các hóa đơn bán hàng và giấy biên nhận nợ có chữ ký của bà H ký xác nhận nợ. Từ ngày 25/3/2013 Công ty S cử đại diện đến gặp bà H để ký xác nhận nợ, nhung không hợp tác gây khó khăn như không ký các văn bản xác nhận nợ.
Căn cứ vào Khoản 4 Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự về nghĩa vụ chứng minh. Bà H qua các lần triệu tập đến Tòa án để giải quyết tranh chấp nhung bà H đều vắng mặt. Do đó, Tòa án căn cứ vào các tài liệu thu thập được có trong hồ sơ để xét xử. Chấp nhận số tiền Công ty S1 nợ Công ty S là: 1.471.568.000 đồng.
[2] Trong 02 hợp đồng nguyên tắc hai bên đã thỏa thuận thanh toán tiền hàng sau 60 ngày nhận hàng nhưng Công ty S1 đã vi phạm thỏa thuận. Do đó, căn cứ vào Khoản 3 Điều 440, Khoản 2 Điều 357 và Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự thì việc Công ty S yêu cầu Công ty S1 phải trả lãi trên số tiền chậm thanh toán với lãi suất 10%/1 năm là đúng pháp luật nên được chấp nhận. Số tiền lãi suất được tính như sau. Kể từ ngày ký nhận nợ 17/5/2023 đến ngày xét xử 29/3/2024 là 317 ngày.
Lãi 10% của 317 ngày là: 1.471.568.000 đồng x 10% : 365 ngày x 317 số ngày chậm trả đến khi xét xử sơ thẩm = 127.804.673 đồng.
Tổng số tiền mà Công ty S1 phải trả cho Công ty S gồm tiền hàng chưa trả 1.471.568.000 đồng + 127.804.673 đồng = 1.599.372.673 đồng.
[3] Đối với thỏa thuận trong hợp đồng nguyên tắc số HĐ 057/SV-HL/2021 hai bên đã thỏa thuận “Mỗi bên thực hiện không đúng và không đầy đủ nghĩa vụ của mình theo hợp đồng này còn phải chịu một khoản phạt vi phạm hợp đồng với số tiền là một tỷ đồng”. Tại phiên tòa Công ty S rút yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
[4] Về án phí:
Tổng số tiền Công ty S1 phải trả cho Công ty S 1.599.372.673 đồng. Số tiền án phí Công ty S1 phải chịu là 36.000.000 đồng + (1.599.372.673 đồng - 800.000.000 đồng) x 3% = 59.981.000 đồng (làm tròn số).
[5] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 280, Khoản 2 Điều 357; Điều 430; Điều 434; Khoản 3 Điều 440; Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.; Điều 50 Luật thương mại; Khoản 25 Điều 70; Khoản 4 Điều 91 và điểm b Khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[1] Xử chấp nhận đơn khởi kiện của Công ty TNHH S kiện yêu cầu Công ty TNHH S1 thanh toán tiền hàng hóa đã mua của Công ty TNHH S và tiền lãi do vi phạm nghĩa vụ thanh toán.
[2] Buộc Công ty TNHH S1 thanh toán cho Công ty TNHH S VICTORY số tiền hàng hóa chưa thanh toán và số tiền lãi do thanh toán tiền hàng hóa chậm là: 1.599.372.673 đồng (Một tỷ năm trăm chín chín triệu ba trăm bảy hai nghìn sáu trăn bảy ba đồng).
Kể từ ngày Công ty TNHH S có đơn yêu cầu thi hành án, nếu Công ty TNHH S1 chậm thi hành án khoản tiền phải thi hành án thì Buộc Công ty TNHH S1 phải chịu lãi suất đối với khoản tiền phải thi hành án, theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2, Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
[3] Về án phí:
Công ty TNHH S1 phải chịu 59.981.000 đồng tiền án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm.
Hoàn trả lại cho Công ty TNHH S số tiền 110.000.000 đồng mà Công ty TNHH S đã nộp tạm ứng án phí biên lai số 0003038 ngày 07/11/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Hưng.
[4] Về quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự biết, các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày đối với nguyên đơn tính từ ngày tuyên án. Đối với bị đơn kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án./.
Bản án về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa số 02/2024/DS-ST
| Số hiệu: | 02/2024/DS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Đông Hưng - Thái Bình |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Ngày ban hành: | 29/03/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về