Bản án về tranh chấp hợp đồng lao động số 17/2024/LĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 17/2024/LĐ-ST NGÀY 30/12/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG

Ngày 30 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án lao động thụ lý số 51/2024/TLST-LĐ ngày 09 tháng 10 năm 2024 về việc Tranh chấp hợp đồng lao động theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2024/QĐXXST-LĐ ngày 28 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 17/2024/QĐST-LĐ ngày 13 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thúy K, sinh năm 1992; nơi thường trú: Tổ 25, ấp L, xã H, huyện P, tỉnh An Giang; nơi tạm trú: Nhà trọ Nguyễn Văn Th, tổ 1, khu phố T, phường A, thành phố C, tỉnh Bình Dương; có đơn xin vắng mặt.

- Bị đơn: Công ty TNHH V; địa chỉ: Lô P8-P9 đường D6, Khu công nghiệp N, phường B, thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Người đại diện theo pháp luật: Ông S – Chức danh: Chủ tịch Công ty; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bảo hiểm xã hội thành phố Tân Uyên; địa chỉ: khu phố 5, phường UH, thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương; có đơn xin vắng mặt.

2. Bà Nguyễn Thị Thùy N, sinh năm 1998; nơi thường trú: Số 527, tổ 10, ấp T, xã N, huyện R, tỉnh Kiên Giang; nơi tạm trú: số 89A, đường C, phường H, thành phố A, tỉnh Bình Dương; có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong quá trình giải quyết vụ án, N đơn bà Nguyễn Thúy K trình bày:

Khoảng tháng 02/2012, bà Nguyễn Thúy K làm việc tại Công ty TNHH P (địa chỉ: Số D10/89Q, Quốc lộ 1A, phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh). Công ty TNHH P tham gia bảo hiểm xã hội cho bà K với mã số BHXH: 7912168236. Từ đó đến nay, mặc dù đã thay đổi làm việc ở một vài Công ty nhưng bà K vẫn tham gia bảo hiểm xã hội với những thông tin này.

Trong thời gian làm việc nêu trên, bà K có cho bà Nguyễn Thị Thùy N là em họ, do chưa đủ tuổi lao động mượn Giấy chứng minh nhân dân của bà K để làm hồ sơ xin việc làm tại Công ty TNHH V, thời gian từ tháng 02/2012 đến tháng 10/2012 thì nghỉ việc. Sau này bà K mới biết Công ty TNHH V có tham gia BHXH cho bà Nguyễn Thị Thùy N dưới thông tin cá nhân của bà K với mã số BHXH: 7412044768, thời gian tham gia BHXH từ tháng 02/2012 đến tháng 10/2012. Như vậy, thời gian Công ty TNHH V tham gia BHXH cho bà N dưới thông tin cá nhân của bà K là trùng với thời gian Công ty TNHH P tham gia BHXH cho bà K nên làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà K.

Do đó, bà K làm đơn khởi kiện yêu cầu Toà án tuyên hợp đồng lao động ký kết giữa Công ty TNHH V và bà Nguyễn Thúy K (do bà Nguyễn Thị Thùy N thực hiện) từ 02/2012 đến tháng 10/2012 vô hiệu. Bà K không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.

Bị đơn Công ty TNHH V được triệu tập hợp lệ nhiều lần tham gia tố tụng tại Tòa án nhưng vắng mặt không lý do, không giao nộp văn bản ghi ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của N đơn.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thùy N trình bày: Bà N thống nhất toàn bộ ý kiến trình bày và yêu cầu khởi kiện của N đơn bà Nguyễn Thúy K về việc yêu cầu Toà án tuyên hợp đồng lao động ký kết giữa Công ty TNHH V và bà Nguyễn Thúy K (do bà Nguyễn Thị Thùy N thực hiện) từ 02/2012 đến tháng 10/2012 vô hiệu. Đồng thời, có đơn xin vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội thành phố Tân Uyên trình bày: Qua kiểm tra đối chiếu dữ liệu của bà Nguyễn Thúy K, sinh ngày 04/6/1992, số CMND 352297287 (CCCD 089192004953) được Công ty TNHH V tham gia BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp (BHTNLĐ-BNN) với mã số BHXH 7412044768 từ tháng 02/2012 đến tháng 10/2012 (kèm theo bản quá trình tham gia); đã xác nhận quá trình đóng BHXH, BHTN, BHTNLĐ-BNN.

Theo quy định hiện hành về đăng ký tham gia BHXH, BHYT, BHTN cơ quan BHXH không lưu giữ HĐLĐ và các giấy tờ tuỳ thân của người lao động mà do người sử dụng lao động quản lý, lưu giữ. Tra cứu thông tin giải quyết hưởng các chế độ BHXH, bảo hiểm thất nghiệp: Mã số 7412044768, tên Nguyễn Thúy K chưa hưởng BHXH một lần, chưa hưởng trợ cấp BHTN.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên phát biểu tại phiên tòa:

- Về tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành tố tụng đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định tại Chương XIV về phiên tòa sơ thẩm. N đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét tại phiên tòa, nhận thấy yêu cầu khởi kiện của N đơn là có cơ sở chấp nhận. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của N đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: N đơn bà Nguyễn Thúy K khởi kiện bị đơn Công ty TNHH V yêu cầu tuyên hợp đồng lao động vô hiệu. Theo Công văn số 2190/ĐKKD ngày 04/11/2024 của Phòng Đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bình Dương và Công văn số 3773/BQL-DNLĐ ngày 27/11/2024 của Ban quản lý các KCN Bình Dương xác định bị đơn Công ty TNHH V có trụ sở tại Khu công nghiệp N, phường B, thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Do đó, căn cứ vào khoản 5 Điều 32, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là vụ án tranh chấp hợp đồng lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

[2] Về việc vắng mặt của đương sự: N đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin vắng mặt; bị đơn đã được tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Do đó, căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

[3] Về nội dung: Bà Nguyễn Thúy K và bà Nguyễn Thị Thùy N cùng thống nhất nội dung là bà Nguyễn Thị Thùy N là người trực tiếp tham gia ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH V từ 02/2012 đến tháng 10/2012 với tên Nguyễn Thúy K. Quá trình làm việc, Công ty TNHH V tham gia đóng bảo hiểm cho bà N với tên Nguyễn Thúy K, số sổ BHXH: 7412044768 thời gian từ tháng 02/2012 đến tháng 10/2012, chưa hưởng BHXH một lần. Xét thấy, việc bà N sử dụng thông tin của bà K để giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH V từ tháng 02/2012 đến tháng 10/2012 là hành vi gian dối. Hành vi trên đã vi phạm N tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực khi xác lập quan hệ lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ Luật Lao động, vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ Luật Lao động nên thuộc trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu theo khoản 1 Điều 49 của Bộ Luật Lao động. Do đó, việc bà Nguyễn Thúy K yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Nguyễn Thúy K (do bà Nguyễn Thị Thùy N thực hiện) với Công ty TNHH V từ tháng 02/2012 đến tháng 10/2012 vô hiệu là có cơ sở chấp nhận.

[4] Về hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Các đương sự xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật, người lao động có quyền liên hệ cơ quan Bảo hiểm xã hội để được giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định.

[5] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Về án phí lao động sơ thẩm: N đơn tự nguyện chịu án phí nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Vì các lẽ trên, Căn cứ vào:

QUYẾT ĐỊNH

- Các điều 32, 35, 39, 91, 92, 147, 227, 228, 235, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Các điều 15, 16, 49, 50 và 51 của Bộ luật Lao động;

- Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của N đơn bà Nguyễn Thúy K đối với bị đơn Công ty TNHH V về việc “Tranh chấp hợp đồng lao động”.

Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Nguyễn Thúy K và Công ty TNHH V, thời gian làm việc từ tháng 02/2012 đến tháng 10/2012 bị vô hiệu.

Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật.

2. Về án phí lao động sơ thẩm: Bà Nguyễn Thúy K phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0004294 ngày 25/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Nếu vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

111
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp hợp đồng lao động số 17/2024/LĐ-ST

Số hiệu:17/2024/LĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Tân Uyên - Bình Dương
Lĩnh vực:Lao động
Ngày ban hành:30/12/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về