TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
BẢN ÁN 09/2024/LĐ-ST NGÀY 07/06/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG
Ngày 7 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 25/2024/TLST-LĐ ngày 15 tháng 4 năm 2024, về việc: “Tranh chấp về hợp đồng lao động”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 109/2024/QĐXXST-LĐ ngày 22/5/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc M, sinh năm 1977; trú tại: Số 63/19A, đường L, khóm M, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn: Công ty TNHH M; địa chỉ trụ sở: Đường Đ, ấp L, xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện theo pháp luật: Ông TU CHIH W– Chức vụ: Giám đốc. Người đại diện hợp pháp của Công ty TNHH M: Ông Phạm Quang S, sinh năm 1978; địa chỉ liên hệ: Đường Đ, ấp L, xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương, là đại diện theo ủy quyền (Theo văn bản ủy quyền ngày 22/5/2024). Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bảo hiểm xã hội thành phố B, tỉnh Bình Dương; địa chỉ: Phường M, thị xã B, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Trọng K – Chức vụ: Giám đốc. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện đề ngày 20/3/2024 và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc M trình bày:
Từ tháng 01/2003 đến tháng 4/2003 bà M ở nhà làm nội trợ tại khóm M, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Đến 04/2016 bà M ký kết hợp đồng lao động với công ty cổ phần đầu tư 4 và làm việc tại trụ sở: Số 27/9, đường T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang và được công ty cổ phần đầu tư 4 tham gia bảo hiểm xã hội từ tháng tháng 4/2016 đến tháng 10/2022 cho bà M theo sổ bảo hiểm số 8916001322. Sau khi nghĩ việc, bà M đến bảo hiểm xã hội để thực hiện thủ tục nhận tiền bảo hiểm, lúc này bà mới được biết Công ty TNHH M; địa chỉ trụ sở: Đường Đ, ấp L, xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương tham gia bảo hiểm xã hội cho bà từ tháng 01/2003 đến tháng 04/2003. Bà khẳng định từ tháng 01/2003 đến tháng 04/2003, bà không làm việc tại Công ty TNHH M nên bà không rõ lý do vì sao lại có sự việc này. Nay bà M yêu cầu Tòa án hủy Hợp đồng lao động ký kết trong thời gian tham gia bảo hiểm xã hội từ tháng 01/2003 đến tháng 04/2003 giữa người lao động có thông tin họ tên Nguyễn Thị Ngọc M với Công ty TNHH M. Bà không yêu cầu giải quyết hậu quả của Hợp đồng vô hiệu. Bà rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc hủy sổ bảo hiểm số 8916001322 tại Bảo hiểm xã hội B, tỉnh Bình Dương.
Quá trình tham gia tố tụng, bị đơn Công ty TNHH M– do ông Phạm Quang S đại diện trình bày:
Công ty TNHH M xác nhận vào thời điểm từ tháng 01/2003 đến tháng 04/2003, phía công ty có tuyển dụng và nhận được hồ sơ xin tuyển dụng của người lao động có thông tin: Nguyễn Thị Ngọc M, sinh năm 1977; CMND 35126xxxx do Công an tỉnh An Giang cấp ngày 01/8/2011. Phía công ty có ký kết hợp đồng lao động và nhận vào làm việc, tham gia bảo hiểm xã hội cho người lao động trong thời gian làm việc tại công ty từ tháng 01/2003 đến tháng 04/2003. Sau đó người lao động nghỉ việc. Do thời gian đã lâu và qua nhiều lần thay thế nhân sự phụ trách lưu kho, sổ sách nên hồ sơ của người lao động phía công ty không còn lưu trữ. Đến nay, phía công ty xác nhận, không xác định được người lao động thực tế đã làm việc tại công ty có đúng với người lao động có thông tin thể hiện trong hợp đồng lao động hay không. Đến khi công ty nhận được thông báo thụ lý vụ án của Tòa án thì công ty mới biết có sự trùng sổ bảo hiểm theo đơn khởi kiện của nguyên đơn.
Nay đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, công ty xin trình bày toàn bộ nội dung liên quan đến hồ sơ của người lao động có tên Nguyễn Thị Ngọc M. Đề nghị Tòa án căn cứ tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ để giải quyết vụ án theo quy định pháp luật. Trường hợp Tòa án tuyên bố Hợp đồng lao động ký kết trong thời gian từ tháng 01/2003 đến tháng 04/2003 giữa bà Nguyễn Thị Ngọc M với Công ty TNHH M là vô hiệu thì Công ty TNHH M không yêu cầu giải quyết hậu quả của Hợp đồng vô hiệu.
Quá trình tham gia tố tụng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội thành phố B trình bày:
Công ty TNHH M đóng bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm thất nghiệp, Bảo hiểm tai nạn lao động- Bệnh nghề nghiệp cho thông tin Nguyễn Thị Ngọc M, sinh năm 1977, số CCCD 08917701xxxx, với mã số BHXH:
910300xxxx từ tháng 01/2003 đến tháng 04/2003. Bà Nguyễn Thị Ngọc M chưa hưởng chế độ trợ cấp BHXH 1 lần và BHTN của mã số 910300xxxx.
Tại phiên tòa, nguyên đơn, đại diện hợp pháp của bị đơn vắng mặt, có đơn đề nghị xử vắng mặt.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến tại phiên tòa:
Về tố tụng: Người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Tại phiên tòa, nguyên đơn, người đại diện hợp pháp của bị đơn, người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xử vắng mặt. Do đó căn cứ vào khoản 1 Điều 227; khoản 2 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử theo quy định.
[1.2] Các bên không cung cấp được tài liệu, chứng cứ là Hợp đồng lao động giữa Công ty TNHH M và bà Nguyễn Thị Ngọc M. Tuy nhiên, Công ty TNHH M thừa nhận có Hợp đồng nhưng thời gian đã lâu nên thất lạc. Như vậy có tồn tại Hợp đồng lao động giữa Công ty TNHH M và người lao động có thông tin họ tên Nguyễn Thị Ngọc M. Đây là tài liệu, chứng cứ không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Qua tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử xét thấy: Từ tháng 01/2003 đến tháng 4/2003 bà M ở nhà làm nội trợ tại Khóm M, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Đến 04/2016 bà M ký kết hợp đồng lao động với công ty cổ phần đầu tư 4 và làm việc tại trụ sở: Số 27/9, đường T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang, được công ty tham gia BHXH, BHYT đầy đủ từ tháng 4/2016 đến tháng 10/2022 cho bà M theo sổ bảo hiểm số 8916001322.
Bị đơn Công ty TNHH M xác nhận có ký kết hợp đồng lao động với người lao động có tên Nguyễn Thị Ngọc M và có tham gia BHXH, BHTN cho người lao động từ tháng 01/2003 đến tháng 4/2003, sau đó chấm dứt việc làm. Hiện hồ sơ công ty không còn lưu giữ, cũng không xác định được người làm việc trên thực tế có đúng với thông tin của người lao động trong hồ sơ xin việc hay không.
Như vậy, Công ty TNHH M tham gia bảo hiểm xã hội cho bà M từ tháng 01/2003 đến tháng 4/2003. Tuy nhiên, thực tế bà M chỉ ở nhà làm nội trợ tại khóm M, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang, không làm việc tại Công ty TNHH M. Do đó, hợp đồng ký kết giữa người lao động có thông tin họ tên Nguyễn Thị Ngọc M và Công ty TNHH M vô hiệu do vi phạm quy định tại Điều 122 và điểm b, c khoản 1 Điều 117.
[2.2] Hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu được xác định theo quy định tại Điều 131 Bộ luật dân sự. Tuy nhiên, nguyên đơn, bị đơn đều không xác định được người đã có thời gian thực tế làm việc tại Công ty TNHH M nên không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.
[2.2] Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[2.3] Về án phí: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí lao động sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 219; Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng 127; 131 của Bộ luật dân sự;
Áp dụng Điều 49, 50, 51 Bộ luật Lao động năm 2019;
Áp dụng Điểm a khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc M về việc “tranh chấp về hợp đồng lao động” với bị đơn Công ty TNHH M.
Tuyên bố, Hợp đồng lao động giao kết giữa bà Nguyễn Thị Ngọc M và Công ty TNHH M từ tháng 01/2003 đến tháng 4/2003, vô hiệu.
2. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị Ngọc M đối với bị đơn Công ty TNHH M về việc yêu cầu hủy sổ bảo hiểm số 8916001322 tại Bảo hiểm xã hội B, tỉnh Bình Dương 3. Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí lao động sơ thẩm số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).
Nguyên đơn, đại diện hợp pháp của bị đơn, đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Bản án về tranh chấp hợp đồng lao động số 09/2024/LĐ-ST
| Số hiệu: | 09/2024/LĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Thị xã Bến Cát - Bình Dương |
| Lĩnh vực: | Lao động |
| Ngày ban hành: | 07/06/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về