TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGÃ NĂM, TỈNH SÓC TRĂNG
BẢN ÁN 75/2024/DS-ST NGÀY 27/07 2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG GÓP HỤI
Trong ngày 27 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 110/2024/TLST-DS, ngày 02 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 175/2024/QĐXXST-DS ngày 19/7/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 200/2024/QĐST-DS ngày 09/8/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Đ, sinh năm 1962. (có mặt) Địa chỉ: ấp Mỹ P, xã Mỹ B, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng.
- Bị đơn: Bà Lê Kim H. (vắng mặt) Địa chỉ: ấp Mỹ P, xã Mỹ B, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Theo nội dung đơn khởi kiện và tại phiên tòa nguyên đơn bà Phạm Thị Đ trình bày:
Năm 2020 bà có làm chủ nhiều dây hụi, có nhiều người tham gia trong đó có bà Lê Kim H. Bà H tham gia chơi nhiều dây hụi gồm hụi tháng và hụi mùa. Trong quá trình chơi hụi thì bà H đã hốt tất cả các dây hụi và bà đã giao hụi đầy đủ cho bà H. Tuy nhiên, sau khi hốt hụi thì bà H không có đóng hụi chết lại cho bà. Hiện nay các dây hụi bà H tham gia đều đã mãn nhưng bà H cũng không có đóng hụi chết cho bà. Sau đó, thì giữa bà với bà H có thỏa thuận tiền hụi lại với nhau. Sau khi tính toán lại thì bà H còn thiếu tiền hụi bà tổng cộng 194.000.000 đồng, gồm hụi tháng thiếu 114.000.000 đồng, hụi mùa thiếu 80.000.000 đồng. Nhưng từ sau khi thỏa thuận thì phía bà H vẫn không có trả cho bà. Do bà H không có trả nên bà có yêu cầu chính quyền địa phương giải quyết. Tại buổi hòa giải của Ban nhân dân ấp Mỹ Phước thì bà H thừa nhận còn nợ bà số tiền 194.000.000 đồng và hứa mỗi tháng sẽ trả 4.000.000 đồng tiền hụi tháng cho đến ngày 30/7/2025 thì hết. Còn hụi mùa thì sẽ trả mỗi vụ lúa là 10.000.000 đồng đến năm 2026 thì hết nợ. Sau khi hòa giải thì bà H đã trả cho bà đến ngày 06/3/2024 được tổng số tiền là 35.000.000 đồng, còn nợ lại 159.000.000 đồng thì ngưng không trả nữa.
Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Lê Kim H trả cho bà tổng số tiền hụi còn thiếu là 159.000.000 đồng. Ngoài ra bà không yêu cầu gì khác.
- Bị đơn bà Lê Kim H vắng mặt: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng gồm: Thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về việc mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa. Tuy nhiên, phía bị đơn bà H không có văn bản trình bày ý kiến đối với nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, xác định quan hệ pháp luật, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử đúng trình tự thủ tục của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử (HĐXX) đúng thành phần, thực hiện đầy đủ các thủ tục, trình tự khi xét xử vụ án. Các đương sự chấp hành tốt nội quy phiên tòa và quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các đương sự tại phiên tòa đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
- Về tố tụng:
[1] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền hụi còn nợ. Đồng thời, bị đơn có địa chỉ: tại ấp Mỹ P, xã Mỹ B, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng nên quan hệ pháp luật tranh chấp được HĐXX xác định là “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng theo qui định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Tại phiên tòa vắng mặt bị đơn. Tòa án đã tống đạt hợp lệ lần thứ 02 nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không rõ lý do. Do đó, HĐXX quyết định xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung:
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả số tiền hụi còn nợ là 159.000.000 đồng. Xét thấy, để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là có căn nguyên đơn có cung cấp giấy thỏa thuận hụi với bị đơn. Đồng thời, trước khi khởi kiện nguyên đơn có yêu cầu chính quyền địa phương hòa giải, tại phiên hòa giải ngày 28/02/2023 bị đơn thừa nhận còn nợ nguyên đơn tổng số tiền hụi là 194.000.000 đồng và đồng ý trả số tiền này cho nguyên đơn theo thời gian và phương thức như sau: Hụi tháng trả 4.000.000 đồng/tháng cho đến khi hết nợ. Đối với hụi mùa sẽ trả mỗi vụ lúa là 10.000.000 đồng cho đến khi hết nợ. Sau khi thỏa thuận bị đơn đã trả cho nguyên đơn được tổng số tiền 35.000.000 đồng còn nợ lại số tiền 159.000.000 đồng. Ngoài ra, từ khi Tòa án thụ lý và giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, do bị đơn trực tiếp nhận nhưng bị đơn vẫn không có văn bản trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cũng như ý kiến đối với các tài liệu nguyên đơn cung cấp. Do đó, đối với yêu cầu khởi kiện của ngyên đơn về việc buộc bị đơn trả số tiền hụi còn nợ 159.000.000 đồng là có cơ sở nên HĐXX chấp nhận theo quy định tại Điều 471 của Bộ luật Dân sự và Điều 16, Điều 24 của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường.
[4] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo qui định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Nguyên đơn không phải chịu án phí.
[5] Từ những phân tích nêu trên, xét lời đề nghị của Kiểm sát viên là có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật nên HĐXX chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 471 của Bộ luật dân sự và khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 , ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị Đ.
Buộc bị đơn bà Lê Kim H có trách nhiệm trả cho nguyên đơn bà Phạm Thị Đ tổng số tiền hụi còn nợ là 159.000.000 đồng (một trăm năm mươi chín triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất qui định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị đơn bà Lê Kim H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 7.950.000 đồng (bảy triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng).
3. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự
Bản án về tranh chấp hợp đồng góp hụi số 75/2024/DS-ST
| Số hiệu: | 75/2024/DS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Thị xã Ngã Năm - Sóc Trăng |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Ngày ban hành: | 27/07/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về