Bản án về tranh chấp hợp đồng giao khoán và yêu cầu bồi thường thiệt hại tài sản số 65/2022/DS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC, TỈNH ĐẮK LẮK

BẢN ÁN 65/2022/DS-ST NGÀY 16/09/2022 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG GIAO KHOÁN VÀ YÊU CẦU BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TÀI SẢN

Vào ngày 16 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 291/2021/TLST-DS ngày 23 tháng 12 năm 2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng giao khoán và yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 125/2022/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 7 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 77/2022/QĐST-DS ngày 19 tháng 8 năm 2022, giữa:

- Nguyên đơn: Công ty cổ phần cà phê T. Địa chỉ: xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

Đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Hoàng P, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Đình B, sinh năm 1957, có mặt. Địa chỉ: thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Trọng H, sinh năm: 1982, vắng mặt. Địa chỉ: xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Công ty cổ phần cà phê T ông Phạm Đình B trình bày:

Vào ngày 25/8/2011, ông Nguyễn Trọng H có đơn xin hợp đồng khoán gọn vườn cây cà phê cho hộ nông trường viên gửi Công ty TNHH MTV cà phê T (nay là Công ty cổ phần cà phê T), để nhận khoán chăm sóc vườn cây cà phê vối của Công ty. Trên cơ sở đơn xin hợp đồng khoán gọn vườn cây cà phê cho hộ nông trường viên của ông Nguyễn Trọng H, ngày 27/8/2011 giữa ông Nguyễn Trọng H và Công ty đã ký hợp đồng khoán gọn vườn cây cà phê. Cụ thể: Theo hợp đồng khoán gọn vườn cây cà phê số 211/2011/HĐ-GK ngày 27/8/2011, ông H đã nhận khoán chăm sóc vườn cây cà phê vối của Công ty có diện tích 10.495m2, diện tích bờ lô 1.524 m2; thửa đất số 42c, tờ bản đồ số 09, thuộc đội 15/2; địa chỉ thửa đất: xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Nguyên giá vườn cây khi nhận khoán có giá là 28.604.793 đồng, Giá trị vườn cây còn lại là 17.062.648 đồng. Phần giá trị vườn cây trên đất Công ty góp 51%, ông H góp 49%. Thời hạn giao khoán là 04 năm sau đó gia hạn thêm 05 năm, tính từ ngày ký kết hợp đồng.

Từ khi nhận khoán vườn cây đến niên vụ cà phê 2017-2018 ông H đã thực hiện nghĩa vụ chăm sóc vườn cây theo đúng quy định của Công ty và thực hiện nghĩa vụ giao nộp sản phẩm đầy đủ theo hợp đồng giao khoán vườn cây đã ký với Công ty. Tuy nhiên, từ niên vụ thu hoạch cà phê 2018-2019 đến nay, ông H đã không thực hiện nghĩa vụ giao nộp sản phẩm cà phê quả tươi cho Công ty theo đúng cam kết trong hợp đồng. Ngoài ra, theo thông báo của Cục thuế tỉnh Đắk Lắk số tiền thuê đất ông H phải nộp về Công ty là 7.332.885 đồng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông H còn tự ý chặt phá khai thác trái phép 11 cây muồng đen có khối lượng 32,80 m3 gỗ và đang chiếm dụng vườn cây của Công ty bất hợp pháp.

Mặc dù, Công ty đã động viên, thông báo nhiều lần nhưng ông H vẫn cố tình chống đối, không hợp tác với Công ty. Việc làm này của ông H là vi phạm hợp đồng đã ký kết với Công ty, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp và tài sản của Công ty. Vì vậy, Công ty cổ phần cà phê T làm đơn khởi kiện ông Nguyễn Trọng H, đề nghị Toà án giải quyết:

1. Tuyên chấm dứt hợp đồng khoán gọn vườn cây số 211/2011/HĐ-GK giữa ông Nguyễn Trọng H với Công ty TNHH MTV cà phê T (nay là Công ty cổ phần cà phê T). Buộc ông Nguyễn Trọng H phải trả lại diện tích đất và vườn cây (theo hợp đồng) cho Công ty cổ phần cà phê T với diện tích 10.495 m2, diện tích bờ lô 1.524 m2; thửa số 42c, tờ bản đồ số 09, thuộc đội 15/2; địa chỉ: xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; có tứ cận: Phía Bắc giáp: Thửa số 42b, tờ bản đồ số 09, người nhận khoán bà Trịnh Thị H; phía Nam giáp: Thửa số 42d, tờ bản đồ số 09, người nhận khoán bà Nguyễn Thị T; phía Đông giáp: Thửa số 42a, tờ bản đồ số 09, người nhận khoán ông Vũ Văn M; phía Tây giáp: Thửa số 43b, tờ bản đồ số 09, người nhận khoán ông Trương Công N.

2. Buộc ông Nguyễn Trọng H phải trả cho Công ty cổ phần cà phê T 7.399 kg cà phê quả tươi còn nợ của 03 niên vụ (2018-2019; 2019-2020; 2021-2022). Giá trị tạm tính tương ứng là: 57.473.700 đồng.

3. Buộc ông Nguyễn Trọng H phải nộp tiền thuê đất về Công ty phần 49% để Công ty nộp cho Cục thuế tỉnh Đắk Lắk là 7.332.885 đồng.

4. Buộc ông Nguyễn Trọng H phải bồi thường 100% giá trị cây muồng đen do hành vi chặt hạ trái phép 11 cây muồng đen trồng năm 1988.

Tại phiên tòa, nguyên đơn chỉ yêu cầu ông H bồi thường 70% giá trị cây muồng đã chặt hạ, nguyên đơn rút 30 % giá trị cây muồng, không yêu cầu ông H phải bồi thường.

Theo kết quả định giá tài sản thì 11 cây muồng đen trồng năm 1988 có giá là 151.536.000 đồng. Do đó, tại phiên tòa hôm nay Công ty cổ phần cà phê T yêu cầu ông H phải bồi thường 70% giá trị cây muồng đen do hành vi chặt hạ trái phép 11 cây trồng năm 1988 là 106.075.200 đồng.

Tại biên bản làm việc ngày 01/7/2022, bị đơn ông Nguyễn Trọng H trình bày:

Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn không đồng ý vì: Theo bị đơn hợp đồng khoán gọn vườn cây cà phê cho hộ nông trường viên số 211/2011/HĐ- GK giữa Công ty TNHHMTV cà phê T và ông Nguyễn Trọng H là vô hiệu từ giai đoạn năm 2018, vì vậy từ năm 2018 đến nay ông H chưa đóng sản lượng cho Công ty theo hợp đồng đã ký kết. Hiện nay, bị đơn không nộp bản tự khai cho Tòa án. Đối với kết quả thẩm định, định giá tài sản mà Tòa án đã gửi cho bị đơn: Bị đơn đã nhận được thông báo kết quả thẩm định, định giá vườn cây, bị đơn không đồng ý, tuy nhiên bị đơn không có yêu cầu gì.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk phát biểu quan điểm:

- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Đối với bị đơn mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tham gia phiên tòa nhưng đều vắng mặt không có lý do là vi phạm quy định tại các Điều 70, Điều 72 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ Điều 5, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm c khoản 1 Điều 217, Điều 218, Điều 219, Điều 227, Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ các Điều 388, 390, 392, 412, 414, 501, 502, 503, 506 của Bộ luật dân sự năm 2005; điểm c khoản 1 Điều 688 của Bộ luật dân sự năm 2015; Các Điều 7, 8, 9, 10, 12 của Nghị định số 135/2005/NĐ-CP ngày 08 tháng 11 năm 2005 của Chính phủ; Thông tư số 102/2006/TT-BNN ngày 13 tháng 11 năm 2006 của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn hướng dẫn một số điều của Nghị định số 135/2005/NĐ-CP ngày 08 tháng 11 năm 2005 của Chính phủ; Luật đất đai năm 2003.

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty cổ phần cà phê T:

- Buộc ông Nguyễn Trọng H phải trả cho Công ty cổ phần cà phê T 7.399 kg cà phê quả tươi trong 03 niên vụ (2018-2019; 2019-2020; 2021-2022). Giá trị tại thời điểm xét xử sơ thẩm là 79.681.538đ (bảy mươi chín triệu sáu trăm tám mươi mốt nghìn năm trăm ba mươi tám đồng).

- Chấm dứt hợp đồng khoán gọn vườn cây cà phê cho hộ nông trường viên số 211/2011/HĐ-GK ngày 27/8/2011 đã ký kết giữa Công ty TNHH MTV cà phê T (nay là Công ty cổ phần cà phê T) và ông Nguyễn Trọng H.

Ông Nguyễn Trọng H có nghĩa vụ trả lại diện tích đất nhận khoán theo hợp đồng khoán gọn vườn cây cà phê cho hộ nông trường viên số 211/2011/HĐ-GK ngày 27/8/2011 đã ký kết với Công ty TNHH MTV cà phê T (nay là Công ty cổ phần cà phê T), cụ thể: diện tích cà phê giao khoán 10.495 m2, diện tích bờ lô 1.524 m2; thửa số 42c, tờ bản đồ số 09, thuộc đội 15/2; địa chỉ: xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; thửa đất có tứ cận:

Phía Bắc giáp: Thửa số 42b, tờ bản đồ số 09, người nhận khoán bà Trịnh Thị H;

Phía Nam giáp: Thửa số 42d, tờ bản đồ số 09, người nhận khoán bà Nguyễn Thị T;

Phía Đông giáp: Thửa số 42a , tờ bản đồ số 09, người nhận khoán ông Vũ Văn M;

Phía Tây giáp: Thửa số 43b, tờ bản đồ số 09, người nhận khoán ông Trương Công N.

Buộc ông Nguyễn Trọng H phải trả lại cho Công ty cổ phần cà phê T toàn bộ tài sản là cây trồng trên diện tích đất mà ông H đã nhận khoán của Công ty cổ phần cà phê T, bao gồm: 887 cây cà phê vối, 40 cây sầu riêng ghép trồng năm 2019, 08 cây mít ghép trồng năm 2015, 08 cây mãng cầu (06 cây trồng năm 2015, 02 cây trồng năm 2018).

Ông Nguyễn Trọng H phải có trách nhiệm tự di dời: 21 cây sầu riêng trồng năm 2021, 30 cây mắc ca, 60 cây cau, 20 cây me thái, 09 cây dừa, 70 cây vông, 15 bụi chuối.

Công ty cổ phần cà phê T có trách nhiệm trả lại giá trị vườn cây của diện tích nhận khoán cho ông Nguyễn Trọng H số tiền là 150.304.673đ (một trăm năm mươi triệu ba trăm lẻ bốn nghìn sáu trăm bảy mươi ba đồng).

- Buộc ông Nguyễn Trọng H bồi thường cho Công ty cổ phần cà phê T thiệt hại do hành vi chặt phá cây muồng chắn gió và che bóng cho cây cà phê số tiền là 106.075.200đ (một trăm lẻ sáu triệu không trăm bảy mươi lăm nghìn hai trăm đồng).

- Buộc ông Nguyễn Trọng H nộp tiền thuê đất cho Công ty cổ phần cà phê T số tiền là 7.332.885đ (bảy triệu ba trăm ba mươi hai nghìn tám trăm tám mươi lăm đồng).

2. Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần cà phê T đối với yêu cầu bồi thường giá trị 30% cây muồng đen.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

- Về quan hệ tranh chấp: Căn cứ vào đơn khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xác định đây là “Tranh chấp hợp đồng giao khoán và yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản” được quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn có địa chỉ tại xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về sự tham gia của đương sự tại phiên tòa: Tại phiên tòa, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Vì vậy, căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử theo quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần cà phê T Hội đồng xét xử xét thấy:

Qua xem xét hợp đồng khoán gọn vườn cây cà phê số 211/2011/HĐ-GK cho hộ nông trường viên ngày 27/8/2011, giữa Công ty TNHH MTV cà phê T với hộ nhận khoán ông Nguyễn Trọng H, thì thấy: Đây là hợp đồng song vụ có thời hạn, khi thực hiện việc giao kết hợp đồng các bên đều hoàn toàn tự nguyện và có đầy đủ năng lực trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật, về nội dung cũng như hình thức của hợp đồng hai bên đã ký kết không vi phạm pháp luật nên có giá trị pháp lý, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên. Mặt khác, trong quá trình thực hiện hợp đồng giao khoán, ông H đều đã thực hiện nghĩa vụ chăm sóc vườn cây theo đúng quy định của Công ty và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ giao nộp sản phẩm theo hợp đồng giao khoán vườn cây đã ký kết với Công ty kể từ khi ký kết cho đến hết niên vụ cà phê 2017-2018. Do đó, việc thỏa thuận giữa nguyên đơn và bị đơn trong hợp đồng là căn cứ để giải quyết vụ án và là chứng cứ không cần chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện về việc buộc ông H phải trả cho Công ty cổ phần cà phê T 7.399 kg cà phê quả tươi trong 03 niên vụ (2018-2019; 2019-2020; 2021- 2022 ), thì thấy: Theo điểm c khoản 2 Điều 3 của Hợp đồng khoán gọn đã ký thì bên B (ông Hùng) có nghĩa vụ “Thực hiện nộp sản lượng cho bên A theo quy định”. Ông H thừa nhận từ năm 2018 đến nay ông H chưa đóng sản lượng cho Công ty theo hợp đồng đã ký kết. Như vậy, ông H đã vi phạm Điều 3 của hợp đồng giao khoán. Do đó, yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần cà phê T về việc buộc ông H phải trả cho Công ty cổ phần cà phê T 7.399kg quả cà phê tươi trong 03 niên vụ, là có căn cứ cần chấp nhận. Giá tại thời điểm xét xử là: 49.000đồng/kg : 4,55 kg x 7.399kg = 79.681.538 đồng.

[2.2] Xét yêu cầu khởi kiện về việc buộc ông H phải bồi thường cho Công ty cổ phần cà phê T thiệt hại do hành vi chặt phá cây muồng chắn gió và che bóng cho cây cà phê: Tại khoản 1 Điều 6 của Hợp đồng khoán gọn vườn cây cà phê quy định về điều khoản cam kết chung thì “Công ty thống nhất quản lý cây muồng đen hiện có trên lô cà phê giao khoán, nếu vì lý do quá dày rợp, già cỗi phải cắt tỉa hoặc khi vườn cây thanh lý thì công ty sẽ tổ chức kiểm kê, lập thủ tục bán theo phương thức đấu thầu…”. Như vậy, việc ông H tự ý cắt hạ cây muồng đen trên diện tích đất nhận khoán là vi phạm hợp đồng đã ký kết. Dựa vào biên bản ghi lời khai, biên bản khám nghiệm hiệm trường của Công an huyện Krông Pắc và số lượng Công ty cung cấp thì số lượng cây muồng đen bị chặt hạ là 11 cây trồng năm 1988. Theo kết quả định giá tài sản thì 11 cây muồng đen trồng năm 1988 có giá là 151.536.000 đồng.

Tại khoản 1 Điều 6 của hợp đồng khoán gọn vườn cây cà phê và tại mục 7.2.1.2 của Phương án khoán gọn vườn cây cà phê quy định: Đối với cây muồng đen trồng trên lô cà phê từ năm 1992 trở về trước khi cắt tỉa hoặc thanh lý thì phân chia theo tỷ lệ 70%-30%. Như vậy, đối với 11 cây muồng đen trồng năm 1988 có giá 151.536.000 đồng, chia theo tỷ lệ 70%-30%, buộc ông H phải bồi thường cho Công ty phần 70% là 106.075.200 đồng.

[2.3] Xét yêu cầu khởi kiện về việc buộc ông H phải nộp tiền thuê đất, thì thấy: Tại điểm g khoản 2 Điều 3 của Hợp đồng khoán gọn vườn cây cà phê đã ký kết giữa Công ty với ông H quy định về nghĩa vụ của bên B thì bên B có nghĩa vụ “Nộp tiền thuê đất, thuế đất nông nghiệp cho nhà nước, theo tỷ lệ 51-49%, phần bên B 49% nộp vào tháng 11 trong năm thông qua bên A”. Tuy nhiên, trong thời gian từ năm 2006- 2010, năm 2015 đến năm 2021 ông H chưa nộp tiền thuê đất cho Công ty để Công ty thực hiện nghĩa vụ nộp tiền thuê đất vào Ngân sách nhà nước theo quy định. Theo tài liệu chứng cứ do Công ty cung cấp thì: Tại thông báo số 43/CT-THNVDT ngày 08/01/2018 của Cục thuế tỉnh Đắk Lắk về việc truy thu tiền thuê đất đã miễn sai đối tượng theo kết luận Kiểm toán Nhà nước thì từ năm 2006-2010 (05 năm) tiền thuê đất được tính 1.042.067 đồng/1ha; Thông báo số 802/TB-CT ngày 24/04/2018 của Cục thuế tỉnh Đắk Lắk về việc nộp tiền thuê đất, thuê mặt nước + Thông báo số 984/TB- CT ngày 07/05/2019 của Cục Thuế tỉnh Đắk Lắk về việc nộp tiền thuê đất, thuê mặt nước thì: năm 2015 tiền thuê đất được tính 699.849 đồng/1ha, từ năm 2016 đến 2017 tiền thuê đất được tính 1.786.739 đồng/1ha/năm, từ năm 2018 đến 2019 tiền thuê đất được tính 1.786.748 đồng/1ha/năm; Thông báo số 0695 ngày 23/3/2020 về việc nộp tiền thuê đất, thuê mặt nước năm 2020 của Cục thuế tỉnh Đắk Lắk thì năm 2020 tiền thuê đất được tính 1.785.408 đồng/1ha; Thông báo số 1252 ngày 29/4/2021 về tiền thuê đất theo hình thức nộp hằng năm của Cục thuế tỉnh Đắk Lắk thì năm 2021 tiền thuê đất được tính 1.785.408 đồng/1ha. Như vậy, căn cứ theo các thông báo thuế nêu trên, tiền thuê đất ông H phải có nghĩa vụ nộp căn cứ vào diện tích nhận khoán và diện tích bờ lô mà ông đã nhận khoán để nộp tiền thuê đất và Công ty khởi kiện yêu cầu ông H phải nộp tiền thuê đất cho Công ty phần 49% số tiền 7.332.885 đồng, là có căn cứ chấp nhận.

[2.4] Xét yêu cầu khởi kiện về việc chấm dứt hợp đồng khoán gọn vườn cây cà phê số 211/2011/HĐ-GK giữa ông H với Công ty TNHH MTV cà phê T (nay là Công ty cổ phần cà phê T), thì thấy: Tại điểm f khoản 1 Điều 2 của Hợp đồng quy định về quyền và nghĩa vụ của bên A (Công ty TNHH MTV cà phê T) thì bên A có quyền “Hủy bỏ hợp đồng giao khoán, thu hồi diện tích giao khoán khi bên nhận khoán vi phạm hợp đồng…”. Tại khoản 5 Điều 6 của Hợp đồng quy định về điều khoản cam kết chung có nêu “Trong quá trình thực hiện hợp đồng bên B không hoàn thành chỉ tiêu giao nộp sản phẩm cà phê theo định mức hàng năm, thì bên A có quyền áp dụng các biện pháp cần thiết để thu hồi nợ và đơn phương chấm dứt hợp đồng giao khoán, thu hồi vườn cây cà phê giao khoán, tiến hành giao cho người khác hợp đồng”. Như vậy, việc ông H không đóng sản lượng, không nộp tiền thuê đất cho Công ty, là vi phạm hợp đồng khoán gọn đã ký kết nên Công ty có quyền chấm dứt hợp đồng giao khoán, thu hồi diện tích giao khoán. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện chấm dứt hợp đồng, buộc ông H trả lại diện tích đất nhận khoán là đúng quy định của pháp luật.

- Về giải quyết hậu quả khi chấm dứt hợp đồng giao khoán:

Theo kết quả định giá tài sản: Tổng giá trị cây cà phê trên đất là 95.809.700 đồng; Tổng giá trị các cây trồng khác trên đất là 130.427.600 đồng.

Theo quy định tại Điều 1 của hợp đồng khoán gọn vườn cây cà phê thì “Phần giá trị vườn cây trên đất Công ty góp 51%, chủ hộ góp 49%”. Vì vậy, khi buộc ông H trả lại vườn cây cà phê trên diện tích đất nhận khoán theo hợp đồng đã ký kết thì cần buộc Công ty cổ phần cà phê T có trách nhiệm trả lại giá trị vườn cây cà phê trên đất phần 49% cho ông H với số tiền là 46.946.753 đồng.

Đối với các cây trồng khác trên đất do ông H tự trồng thì thấy:

+ Đối với các cây trồng khác được ông H trồng trước thời điểm Công ty có thông báo về việc giải quyết hợp đồng giao khoán đã hết thời hạn (trước tháng 12/2019) gồm: 40 cây sầu riêng ghép trồng năm 2019, 08 cây mít ghép trồng năm 2015, 08 cây mãng cầu (06 cây trồng năm 2015, 02 cây trồng năm 2018), theo biên bản định giá tài sản các cây trồng này có giá trị là 103.357.920 đồng. Đối với các cây trồng này, mặc dù ông H tự trồng trên đất không được phía Công ty đồng ý. Tuy nhiên hàng năm, khi tiến hành kiểm tra vườn cây thì phía Công ty không lập biên bản vi phạm và cũng không có ý kiến gì đối với việc này. Vì vậy, khi ông H trả lại vườn cây nhận khoán cho Công ty thì Công ty phải trả lại toàn bộ phần giá trị các cây trồng do ông H đã đầu tư nói trên, cụ thể: 100% trị giá của các cây trồng trên là 103.357.920 đồng.

+ Đối với các cây trồng khác được ông H trồng sau thời điểm Công ty có thông báo về việc giải quyết hợp đồng giao khoán đã hết thời hạn (sau tháng 12/2019) gồm:

21 cây sầu riêng trồng năm 2021, 30 cây mắc ca, 60 cây cau, 20 cây me thái, 09 cây dừa, 70 cây vông, 15 bụi chuối. Đối với các cây trồng này, mặc dù Công ty đã có thông báo về việc giải quyết hợp đồng giao khoán đã hết thời hạn gửi cho ông H và theo hợp đồng khoán gọn vườn cây cà phê số 211/2011/HĐ-GK đã ký kết thì thời hạn hợp đồng giao khoán giữa ông H và Công ty hết hạn vào năm 2019. Sau khi có thông báo, ông H không thực hiện việc giải quyết hợp đồng giao khoán đã hết thời hạn mà tiếp tục tự ý trồng các cây trồng này trên đất. Do vậy, Công ty không phải hoàn trả giá trị các cây trồng này cho ông H, buộc ông H phải di dời các cây trồng gồm: 21 cây sầu riêng trồng năm 2021, 30 cây mắc ca, 60 cây cau, 20 cây me thái, 09 cây dừa, 70 cây vông, 15 bụi chuối.

Như vậy, ông H phải trả lại cho Công ty cổ phần cà phê T toàn bộ tài sản là cây trồng tạo dựng trên diện tích đất mà ông đã nhận khoán của Công ty, bao gồm: 887 cây cà phê vối, 40 cây sầu riêng ghép trồng năm 2019, 08 cây mít ghép trồng năm 2015, 08 cây mãng cầu (06 cây trồng năm 2015, 02 cây trồng năm 2018).

Ông H phải có trách nhiệm tự di dời: 21 cây sầu riêng trồng năm 2021, 30 cây mắc ca, 60 cây cau, 20 cây me thái, 09 cây dừa, 70 cây vông, 15 bụi chuối.

Công ty cổ phần cà phê T có trách nhiệm trả lại giá trị vườn cây của diện tích nhận khoán cho ông H với tổng số tiền là 150.304.673 đồng (Bao gồm: 49% trị giá của cây cà phê là 46.946.753 đồng; 100% trị giá của các cây trồng khác là 103.357.920 đồng).

Qúa trình giải quyết vụ án, nguyên đơn yêu cầu ông H phải bồi thường 100% giá trị cây muồng đen do hành vi chặt hạ trái phép 11 cây trồng năm 1988. Tại phiên tòa, nguyên đơn chỉ yêu cầu ông H bồi thường 70% giá trị cây muồng đã chặt hạ, nguyên đơn rút 30 % giá trị cây muồng, không yêu cầu ông H phải bồi thường. Xét thấy, việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện, đúng pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần chấp nhận.

[3] Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản là 9.100.000 đồng, số tiền này nguyên đơn đã nộp. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, nên căn cứ Điều 157, Điều 165 của Bộ luật tố tụng dân sự thì bị đơn phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản. Vì vậy, cần buộc ông Nguyễn Trọng H phải thanh toán lại cho nguyên đơn Công ty cổ phần cà phê T số tiền 9.100.000 đồng, là đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

[4] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông Nguyễn Trọng H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm: 300.000 đồng án phí không có giá ngạch và 9.654.481 đồng án phí có giá ngạch. Tổng cộng ông Nguyễn Trọng H phải chịu 9.954.481 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[5] Xét quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk tại phiên tòa là có căn cứ và đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ Điều 5, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm c khoản 1 Điều 217, Điều 218, Điều 219, Điều 244, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Căn cứ các Điều 388, 390, 392, 412, 414, 501, 502, 503, 506 của Bộ luật dân sự năm 2005; điểm c khoản 1 Điều 688 của Bộ luật dân sự năm 2015; Các Điều 7, 8, 9, 10, 12 của Nghị định số 135/2005/NĐ-CP ngày 08 tháng 11 năm 2005 của Chính phủ; Thông tư số 102/2006/TT-BNN ngày 13 tháng 11 năm 2006 của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn hướng dẫn một số điều của Nghị định số 135/2005/NĐ-CP ngày 08 tháng 11 năm 2005 của Chính phủ; Luật đất đai năm 2003.

- Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty cổ phần cà phê T:

- Buộc ông Nguyễn Trọng H phải trả cho Công ty cổ phần cà phê T 7.399 kg cà phê quả tươi trong 03 niên vụ (2018-2019; 2019-2020; 2021-2022). Giá trị tại thời điểm xét xử sơ thẩm là 79.681.538đ (bảy mươi chín triệu sáu trăm tám mươi mốt nghìn năm trăm ba mươi tám đồng).

- Chấm dứt hợp đồng khoán gọn vườn cây cà phê cho hộ nông trường viên số 211/2011/HĐ-GK ngày 27/8/2011 đã ký kết giữa Công ty TNHH MTV cà phê T (nay là Công ty cổ phần cà phê T) và ông Nguyễn Trọng H.

Ông Nguyễn Trọng H có nghĩa vụ trả lại diện tích đất nhận khoán theo hợp đồng khoán gọn vườn cây cà phê cho hộ nông trường viên số 211/2011/HĐ-GK ngày 27/8/2011 đã ký kết với Công ty TNHH MTV cà phê T (nay là Công ty cổ phần cà phê T), cụ thể: diện tích cà phê giao khoán 10.495 m2, diện tích bờ lô 1.524 m2; thửa số 42c, tờ bản đồ số 09, thuộc đội 15/2; địa chỉ: xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; thửa đất có tứ cận:

Phía Bắc giáp: Thửa số 42b, tờ bản đồ số 09, người nhận khoán bà Trịnh Thị H;

Phía Nam giáp: Thửa số 42d, tờ bản đồ số 09, người nhận khoán bà Nguyễn Thị T;

Phía Đông giáp: Thửa số 42a , tờ bản đồ số 09, người nhận khoán ông Vũ Văn M;

Phía Tây giáp: Thửa số 43b, tờ bản đồ số 09, người nhận khoán ông Trương Công N.

Buộc ông Nguyễn Trọng H phải trả lại cho Công ty cổ phần cà phê T toàn bộ tài sản là cây trồng trên diện tích đất mà ông H đã nhận khoán của Công ty cổ phần cà phê T, bao gồm: 887 cây cà phê vối, 40 cây sầu riêng ghép trồng năm 2019, 08 cây mít ghép trồng năm 2015, 08 cây mãng cầu (06 cây trồng năm 2015, 02 cây trồng năm 2018).

Ông Nguyễn Trọng H phải có trách nhiệm tự di dời: 21 cây sầu riêng trồng năm 2021, 30 cây mắc ca, 60 cây cau, 20 cây me thái, 09 cây dừa, 70 cây vông, 15 bụi chuối.

Công ty cổ phần cà phê T có trách nhiệm trả lại giá trị vườn cây của diện tích nhận khoán cho ông Nguyễn Trọng H số tiền là 150.304.673đ (một trăm năm mươi triệu ba trăm lẻ bốn nghìn sáu trăm bảy mươi ba đồng).

- Buộc ông Nguyễn Trọng H bồi thường cho Công ty cổ phần cà phê T thiệt hại do hành vi chặt phá cây muồng chắn gió và che bóng cho cây cà phê số tiền là 106.075.200đ (một trăm lẻ sáu triệu không trăm bảy mươi lăm nghìn hai trăm đồng).

- Buộc ông Nguyễn Trọng H nộp tiền thuê đất cho Công ty cổ phần cà phê T số tiền là 7.332.885đ (bảy triệu ba trăm ba mươi hai nghìn tám trăm tám mươi lăm đồng).

Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần cà phê T đối với yêu cầu bồi thường giá trị 30% cây muồng đen.

2. Về chi phí tố tụng: Buộc ông Nguyễn Trọng H phải trả cho Công ty cổ phần cà phê T 9.100.000đ (chín triệu một trăm nghìn đồng) tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản.

Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

3. Về án phí:

Bị đơn ông Nguyễn Trọng H phải chịu 300.000 đồng án phí không có giá ngạch và 9.654.481 đồng án phí có giá ngạch. Tổng cộng ông Nguyễn Trọng H phải chịu 9.954.481đ (chín triệu chín trăm năm mươi tư nghìn bốn trăm tám mươi mốt đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả cho Công ty cổ phần cà phê T số tiền 3.340.000đ (ba triệu ba trăm bốn mươi nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 60AA/2021/0009864, ngày 22/12/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện K.

4. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án, hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

131
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp hợp đồng giao khoán và yêu cầu bồi thường thiệt hại tài sản số 65/2022/DS-ST

Số hiệu:65/2022/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Krông Pắc - Đăk Lăk
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 16/09/2022
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về