TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BẢN ÁN 986/2023/KDTM-PT NGÀY 25/09/2023 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG GIA CÔNG HÀNG HÓA
Trong các ngày 11 và 25 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 65/2023/TLPT-KDTM ngày 05 tháng 06 năm 2023 về việc: “Tranh chấp hợp đồng gia công hàng hóa”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 20/2023/KDTM-ST ngày 04 tháng 4 năm 2023 của Toà án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2738/2022/QĐ-PT ngày 20/6/2023 và hai Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 9621/2023/QĐ-PT ngày 19/7/2023 và số 11107/2023/QĐ-PT ngày 17/8/2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty TNHH S Địa chỉ: Thôn A, xã N, thị xã A, Bình Định.
Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Thanh N, sinh năm: 1967; địa chỉ liên hệ: 3 B, khu phố A, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (theo Văn bản ủy quyền ngày 05/8/2017).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Nguyễn Công T, Luật sư của Công ty L và Đặng Nguyễn , thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H.
2. Bị đơn: Công ty TNHH Đ Địa chỉ: Số F B, khu phố D, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phan Huyền V, sinh năm: 1972; địa chỉ: A đường L, khu phố A, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (theo Văn bản ủy quyền ngày 19/8/2019).
(Tại phiên tòa: Ông N, ông T và ông V có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Nội dung bản án sơ thẩm và quyết định sửa đổi bản án thể hiện như sau:
* Nguyên đơn trình bày:
Công ty TNHH S (sau đây gọi tắt là Công ty S) và Công ty TNHH Đ (sau đây gọi tắt là gọi tắt là Công ty Đ) có ký các hợp đồng gia công gồm: số 04GC/MK-SD/2017 ngày 17/3/2017 để gia công quần short (mã hàng 2607) số lượng 11.510 chiếc với giá 420.091.980 đồng; số 05GC/MK-SD/2017 ngày 06/3/2017 để gia công áo Thoub Ả Rập số lượng 6.000 chiếc với giá 480.691.200 đồng; và số 06GC/MK-SD/2017 ngày 16/5/2017 để gia công quần (mã hàng POTC738001-01) số lượng 1.477 chiếc, (mã hàng POTC724R01) số lượng 1.600 chiếc, (mã hàng POTH725R01) số lượng 3.130 chiếc với tổng giá tiền 247.130.692 đồng. Công ty S đã gia công và giao hàng thành phẩm cho Công ty Đ như sau: Theo Hợp đồng số 04GC/MK-SD/2017 đã giao quần short (mã hàng 2607) 8.483 chiếc có giá 309.612.534 đồng; Hợp đồng số 05GC/MK-SD/2017 đã giao áo Thoub Ả Rập 5.198 chiếc có giá 416.438.809 đồng và Hợp đồng số 06GC/MK-SD/2017 đã giao quần (mã hàng POTC738001-01) 1.425 chiếc, (mã hàng POTC724R01) 1.507 chiếc, (mã hàng POTH725R01) 2.962 chiếc với tổng giá tiền 234.618.091 đồng. Đồng thời, cũng đã giao một số hàng thành phẩm bị lỗi gồm: 535 chiếc áo Thoub Ả Rập, 52 chiếc quần (mã hàng POTC738001-01), 36 chiếc (mã hàng POTC724R01) và 104 chiếc (mã hàng POTH725R01), với tổng giá tiền 3.282.972 đồng. Đồng thời, Công ty S cũng đã phát hành các hóa đơn yêu cầu thanh toán chi phí gia công gồm: số 0000002 ngày 20/5/2017 với số tiền 309.612.534 đồng, có hạn thanh toán là ngày 20/6/2017; số 0000003 ngày 23/6/2017 với số tiền 416.438.809 đồng, có hạn thanh toán là ngày 23/7/2017 và số 0000004 ngày 23/6/2017 với số tiền 237.901.063 đồng, có hạn thanh toán là ngày 23/7/2017. Tổng cộng số tiền của 03 hóa đơn là 963.952.406 đồng.
Ngoài ra, ngày 24/6/2017, Công ty Đ đã cố tình phát hành ủy nhiệm chi thanh toán tiền không đúng quy định nhằm lừa dối để Công ty S giao hàng. Đồng thời, giữa tháng 6/2017, Công ty Đ còn tổ chức, tụ tập đám đông tại trụ sở Công ty S để gây rối, đe dọa nhằm gây sức ép buộc phải giao cả hàng hóa thành phẩm và nguyên phụ liệu còn lại khi chưa được thanh lý, quyết toán, trong khi đó Công ty Đ vẫn không thanh toán tiền hàng khi đã hết hạn thanh toán. Mặc dù, Công ty S đã nhiều lần thông báo trả nợ nhưng cho tới nay vẫn chưa được nhận bất kỳ khoản thanh toán nào từ Công ty Đ.
Trước đây, Công ty S có yêu cầu Công ty Đ phải thanh toán cả tiền nợ và phải trả lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trên số tiền còn thiếu tương ứng với thời gian chậm trả và yêu cầu thanh toán số tiền 3.282.972 đồng đối với số hàng gia công thành phẩm bị lỗi. Nay, Công ty S chỉ yêu cầu Công ty Đ trả số tiền gia công hàng hóa chưa thanh toán là 960.669.435 đồng. Công ty S tự nguyện không yêu cầu tiền lãi chậm trả trên số tiền còn thiếu và số tiền 3.282.972 đồng đối với số hàng gia công thành phẩm bị lỗi.
* Bị đơn trình bày:
Công ty Đ và Công ty S có ký 03 hợp đồng gia công gồm: số 04GC/MK- SD/2017 ngày 17/3/2017 để gia công quần short với số lượng là 11.510 chiếc, thời hạn giao hàng là ngày 15/4/2017, với tổng giá trị là 420.091.980 đồng; số 05GC/MK-SD/2017 ngày 06/3/2017 để gia công áo Thoub Ả Rập với số lượng là 6.000 chiếc, thời hạn giao hàng là ngày 12/5/2017, với tổng giá trị là 480.691.200 đồng và số 06GC/MK-SD/2017 ngày 16/5/2017 để gia công hàng hóa có tên p với số lượng là 6.207 chiếc, thời hạn giao hàng là ngày 20/6/2017, với tổng giá trị là 247.130.692 đồng.
Đối với Hợp đồng số 04GC/MK-SD/2017: Lô hàng này theo thỏa thuận giao hàng vào ngày 15/4/2017 nhưng đến thời hạn giao hàng, Công ty S vẫn chưa giao đầy đủ số lượng, cụ thể: Ngày 20/5/2017 chỉ giao được 8.483 chiếc trên tổng số 11.510 chiếc. Do vậy, lô hàng này, Công ty Đ đã phát sinh những chi phí sau: Chi phí xuất hàng bằng đường hàng không: 7.298 USD tương đương 165.591.620 đồng (theo Debit Note số 12/06-MEKONG/NB/2017) và chi phí kiểm final do chất lượng hàng hóa không đạt chuẩn phải kiểm lại ITS với số tiền 51.400.000 đồng. Tổng chi phí phát sinh là 216.991.620 đồng. Đối với Hợp đồng số 05GC/MK-SD/2017: Lô hàng này theo thỏa thuận giao hàng vào ngày 12/5/2017 nhưng đến ngày 23/6/2017 chỉ giao được 5.198 bộ. Do vậy, đến ngày 24/6/2017, Công ty Đ mới xuất được tổng là 4.821 bộ trên tổng 5.198 bộ vì hàng bị lỗi. Chi phí phát sinh như sau: Chi phí hàng còn thiếu là 1.179 bộ với số tiền 954.518.400 đồng và chi phí cấp phụ liệu ngoài định mức 19.833.163 đồng. Tổng chi phí phát sinh là 974.518.400 đồng. Đối với Hợp đồng số 06GC/MK-SD/2017: Lô hàng này theo thỏa thuận giao hàng vào ngày 14/6/2017 đối với 02 mã hàng là POTC724R01 và POTH725R01 và giao hàng vào ngày 24/6/2017 đối với mã hàng là POTC73 8001-01 nhưng đến ngày 24/6/2017 mới giao 03 mã hàng trên. Chi phí phát sinh như sau: Chi phí xuất hàng bằng đường hàng không 66.842.237 đồng và chi phí xuất hàng lỗi 192 chiếc (chi phí này đang đợi khách hàng báo lại). Ngoài ra, đối với lô hàng gồm mã hàng TNJD74T01A, POJD74C001, POJ74C003 do Công ty S không nhận kế hoạch sản xuất nên Công ty Đ có gửi thông báo ngày 17/6/2017 và ngày 20/6/2017 để yêu cầu giao trả lại cho Công ty Đ nhưng không nhận được trả lời. Do tính chất hàng gấp và bên phía người mua yêu cầu phải giao hàng đúng thời gian thỏa thuận nếu không phải bồi thường hợp đồng nên Công ty Đ sắp xếp người đến Công ty S để trực tiếp lấy hàng, cụ thể ngày 24/6/2017, Công ty Đ cử người đến làm việc với Công ty S. Công ty Đ thỏa thuận lấy hàng một cách ôn hòa và được sự đại diện của Công ty S đồng ý theo biên bản “V/v xuất hàng đột xuất” cùng ngày.
Từ những sự kiện trên cho thấy Công ty Đ luôn cố gắng giải quyết những vấn đề phát sinh bằng phương pháp ôn hòa nhất. Đổi lại, Công ty S không những không hợp tác giải quyết mà còn có ý định giữ lại các nguyên liệu, sản phẩm của Công ty Đ nhằm mục đích trục lợi riêng. Công ty Đ không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty S vì Công ty S đã vi phạm hợp đồng về thời hạn giao hàng thành phẩm và đã làm thiệt hại cho Công ty Đ chi phí phát sinh của 03 lô hàng trên (tính tới ngày 05/11/2019) là 1.258.185.420 đồng.
Tại phiên tòa sơ thẩm, phía bị đơn thừa nhận đã nhận số lượng hàng hóa gia công đúng số lượng mà Công ty S trình bày nhung do Công ty S không thực hiện đúng các hợp đồng đã ký kết, cụ thể giao hàng không đúng thời hạn theo thỏa thuận, không đủ số lượng và hàng hóa không đạt chất lượng đã gây thiệt hại cho Công ty Đ, cụ thể là thiệt hại về chi phí xuất hàng bằng đường hàng không, chi phí mua thêm nguyên, phụ liệu và các chi phí khác. Do đó, Công ty Đ không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty S.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 20/2023/KDTM-ST ngày 04 tháng 4 năm 2023 của Toà án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh (sửa chữa tại Quyết định sửa chữa bản án sơ thẩm số 98/2023/QĐ-SCBSBA ngày 21/6/2023) đã quyết định:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH S.
1.1. Buộc Công ty TNHH Đ phải có nghĩa vụ thanh toán làm một lần số tiền nợ là 960.669.435 đồng (Chín trăm sáu mươi triệu sáu trăm sáu mươi chín ngàn bốn trăm ba mươi lăm đồng) cho công ty TNHH S.
1.2. Kể từ ngày Công ty TNHH S có đơn yêu cầu thi hành án nếu Công ty TNHH Đ chậm thanh toán khoản tiền trên thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tính theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả.
Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
2. Đình chỉ một phần yêu cầu của Công ty TNHH S về việc buộc Công ty TNHH Đ phải thanh toán tiền lãi chậm trả trên số tiền còn thiếu và số tiền 3.282.972 đồng đối với số hàng gia công thành phẩm bị lỗi.
Ngoài ra bản án sơ thẩm cũng xác định trách nhiệm chịu án phí, quyền và thời hạn kháng cáo của các đương sự.
Ngày 13/4/2023 bị đơn Công ty Đ đã nộp đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm do nguyên đơn vị phạm hợp đồng làm thiệt hại cho bị đơn phải bồi thường cho đối tác và phát sinh thêm chi phí nhung bị đơn không nhận được giấy triệu tập của Tòa án để đến Tòa làm việc nên bị đơn không có cơ hội trình bày ý kiến và nộp đơn yêu cầu phản tố.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm do nguyên đơn vị phạm hợp đồng làm thiệt hại cho bị đơn phải bồi thường cho đối tác và phát sinh thêm chi phí nhung bị đơn không nhận được giấy triệu tập của Tòa án để đến Tòa làm việc nên bị đơn không có cơ hội trình bày ý kiến và nộp đơn yêu cầu phản tố.
- Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh:
+ Về tố tụng: Thẩm phán chủ tọa, Hội đồng xét xử phúc thẩm và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
+ Về tính hợp lệ của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo được nộp trong thời hạn quy định nên hợp lệ.
+ Về nội dung kháng cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm vì Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở. Kháng cáo của bị đơn là không có căn cứ nên không chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Xét kháng cáo của bị đơn Công ty Đ, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1.1] Về hình thức của đơn kháng cáo: Xét thấy đơn kháng cáo của bị đơn trong thời hạn luật định, hợp lệ nên được chấp nhận.
[1.2] Về nội dung kháng cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
Xét các Hợp đồng gia công hàng hóa số 04GC/MK-SD/2017 ngày 17/3/2017, số 05GC/MK-SD/2017 ngày 06/3/2017 và số 06GC/MK-SD/2017 ngày 16/5/2017 được ký giữa Công ty S và Công ty Đ là hoàn toàn tự nguyện, hình thức và nội dung phù hợp với quy định của pháp luật nên phát sinh quyền và nghĩa vụ đối với các bên.
Căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ gồm: Hợp đồng gia công hàng hóa, hóa đơn VAT, sự thừa nhận của các bên có cơ sở xác định quá trình thực hiện hợp đồng phía Công ty S đã gia công và giao cho Công ty Đ số lượng hàng cụ thể: Theo Hợp đồng số 04GC/MK-SD/2017, giá gia công có thuế giá trị gia tăng 11.510 chiếc quần short (mã hàng 2607) là 420.091.980 đồng, với 8.483 sản phẩm đã giao nhận là 309.612.534 đồng; Theo Hợp đồng số 05GC/MK-SD/2017, giá gia công 6.000 chiếc áo Thoub Ả Rập là 480.691.200 đồng, với 5.198 sản phẩm đã giao nhận là 416.438.809,6 đồng; Theo Hợp đồng số 06GC/MK-SD/2017, giá gia công 1.477 chiếc có mã hàng POTC738001-01 là 55.101.701 đồng, với 1.425 sản phẩm đã giao nhận là 53.161.762,5 đồng; 1600 sản phẩm có mã hàng POTC724R01 là 59.690.400 đồng, với 1.425 sản phẩm đã giao nhận là 56.220.895,5 đồng; 3.130 sản phẩm có mã hàng POTH725R01 là 132.338.591 đồng, với 2.962 sản phẩm đã giao nhận là 125.235.433,4 đồng. Tổng cộng tiền cho tất cả các sản phẩm đã giao nhận là 960.669.435 đồng.
Căn cứ sự thừa nhận của bị đơn và văn bản số 30/CCT/PGD-TĐN-2020 ngày 03/12/2020 của Ngân hàng TMCP S1 - Phòng G, quận B thì ngày 24/6/2017 Công ty Đ (số tài khoản 060130874854) không có phát sinh giao dịch thực hiện ủy nhiệm chi tại Ngân hàng này để thanh toán số tiền 1.105.104.357 đồng (Một tỷ một trăm lẻ năm triệu một trăm lẻ bốn ngàn ba trăm năm mươi bảy đồng) cho Công ty S (số tài khoản 140014851036712). Do đó, có cơ sở xác định Công ty Đ chua thanh toán tiền gia công cho Công ty S. Việc Công ty Đ không thực hiện nghĩa vụ thanh toán là vi phạm thỏa thuận của các bên tại Điều 5 của Hợp đồng số 04GC/MK-SD/2017 ngày 17/3/2017, Điều 4 của Hợp đồng số 05GC/MK-SD/2017 ngày 06/3/2017 va Điều 3 của Hợp đồng số 06GC/MK-SD/2017 ngày 16/5/2017.
Phía bị đơn đã được Tòa án cấp sơ thẩm tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng nhu Giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn chỉ gửi bản tự khai đến Tòa mà không đến Tòa làm việc, không tham gia hòa giải, đối chất theo triệu tập của Tòa án cũng như không nộp đơn yêu cầu phản tố đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo quy định tại Điều 202 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên việc bị đơn kháng cáo cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm thủ tục tố tụng, bị đơn không được triệu tập đến Tòa nên không có cơ hội trình bày ý kiến và nộp đơn yêu cầu phản tố là không có cơ sở.
Từ những phân tích nêu trên Hội đồng xét xử thấy không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị đơn Công ty Đ, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[1.3] Xét, Công ty S rút lại một phần yêu cầu về việc buộc Công ty Đ phải thanh toán tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trên số tiền còn thiếu và số tiền 3.282.972 đồng đối với số hàng gia công thành phẩm bị lỗi, là hoàn toàn tự nguyện, đúng pháp luật nên Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ yêu cầu này của Công ty S là đúng theo quy định của pháp luật.
[2] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp và có cơ sở nên chấp nhận.
[3] Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/ƯBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu án phí trên số tiền phải trả cho nguyên đơn.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Do Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm nên người kháng cáo là Công ty Đ phải chịu án phí phúc thẩm.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét lại.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các điều 148, Điều 308, Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 26 và 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Không chấp nhận kháng cáo của Công ty TNHH Đ; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 20/2023/KDTM-ST ngày 04 tháng 4 năm 2023 của Toà án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh:
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH S.
1.1. Buộc Công ty TNHH Đ phải có nghĩa vụ thanh toán làm một lần số tiền nợ là 960.669.435 (Chín trăm sáu mươi triệu sáu trăm sáu mươi chín ngàn bốn trăm ba mươi lăm) đồng cho Công ty TNHH S.
1.2. Kể từ ngày Công ty TNHH S có đơn yêu cầu thi hành án nếu Công ty TNHH Đ chậm thanh toán khoản tiền trên thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tính theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả.
Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
2. Đình chỉ một phần yêu cầu của Công ty TNHH S về việc buộc Công ty TNHH Đ phải thanh toán tiền lãi chậm trả trên số tiền còn thiếu và số tiền 3.282.972 đồng đối với số hàng gia công thành phẩm bị lỗi.
3. Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
Công ty TNHH Đ phải chịu số tiền án phí là 40.820.083 (Bốn mươi triệu tám trăm hai mươi ngàn không trăm tám mươi ba) đồng.
Công ty TNHH S không phải chịu án phí. Hoàn trả cho Công ty TNHH S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 20.539.859 (Hai mươi triệu năm trăm ba mươi chín ngàn tám trăm năm mươi chín) đồng theo Biên lai thu số 0001042 ngày 02/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm:
Công ty TNHH Đ phải chịu là 2.000.000 (Hai triệu) đồng, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 2.000.000 (Hai triệu) đồng theo Biên lai thu số 0011177 ngày 10/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. Công ty TNHH Đ đã nộp đủ án phí phúc thẩm theo quy định.
5. Các bên đương sự thi hành án tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
6. Bản án này có hiệu lực pháp luật ngay.
7. Tnrờng họp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án về tranh chấp hợp đồng gia công hàng hóa số 986/2023/KDTM-PT
| Số hiệu: | 986/2023/KDTM-PT |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh |
| Lĩnh vực: | Kinh tế |
| Ngày ban hành: | 25/09/2023 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về