Bản án về tranh chấp hợp đồng dịch vụ số 63/2022/KDTM-PT

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 63/2022/KDTM-PT NGÀY 20/01/2022 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ

Trong các ngày 14 tháng 12 năm 2021, ngày 07, 14 và 20 tháng 01 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 143/2020/TLPT-KDTM ngày 09 tháng 9 năm 2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng cung ứng dịch vụ”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 511/2020/KDTM-ST ngày 21 tháng 7 năm 2020 của Tòa án nhân dân Quận 3 bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4276/2021/QĐ-PT ngày 15 tháng 11 năm 2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn:

1.1. Công ty Cổ phần R Địa chỉ: 39 đường LHK, phường PNL, quận M, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Minh T.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Nguyễn Hữu T1.

1.2. Công ty Cổ phần RA Địa chỉ: 39 đường LHK, phường PNL, quận M, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Minh T.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Nguyễn Hữu T1.

2. Bị đơn: Công ty Cổ phần AG Địa chỉ: 30 đường NTD, phường S, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Thùy D, bà Dương Thanh H, bà Nguyễn Hương G, bà Trương Quỳnh G1, ông Nguyễn Thanh T2.

3. Người kháng cáo: Công ty Cổ phần AG là bị đơn.

(Ông T, ông T1 và bà H có mặt; bà D, bà G, bà G1 và ông T2 vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo bản án sơ thẩm đã thể hiện:

* Theo Đơn khởi kiện ngày 30/12/2019, Đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện ngày 03/02/2020 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn Công ty Cổ phần R có ông Nguyễn Thành Đ là người đại diện theo pháp luật và ông Trần Minh T là người đại diện theo ủy quyền thống nhất trình bày như sau:

Ngày 23/10/2018, Công ty Cổ phần R (sau đây gọi là Công ty R) và Công ty Cổ phần AG (sau đây gọi là Công ty AG) ký kết Hợp đồng số:

23102018/HĐKT/R-AG (sau đây gọi là Hợp đồng số 2310) về việc cung cấp gói dịch vụ ca nhạc do ca sĩ HNH trình bày, thu âm và xây dựng clip cho Dự án AG 2018. Nội dung chi tiết các hạng mục công việc được các bên thống nhất và quy định trong các phụ lục hợp đồng. Tổng giá trị của hợp đồng là 8.501.970.178 đồng (đã bao gồm VAT), thời gian thực hiện dịch vụ từ ngày ký hợp đồng đến hết ngày 25/12/2018. Các bên cũng đồng thời thỏa thuận về việc các hạng mục phát sinh tăng thêm so với hợp đồng thì phải được thống nhất bằng văn bản và thanh toán trên cơ sở nghiệm thu thực tế.

Ngày 20/11/2018, Công ty R và Công ty AG ký Phụ lục 1 Hợp đồng với nội dung bổ sung sự tham gia của diễn viên KL cho clip ca nhạc. Giá trị của Phụ lục này là 1.150.688.000 đồng (đã bao gồm VAT).

Ngày 12/12/2018, Công ty R và Công ty AG ký Phụ lục 2 Hợp đồng sửa đổi và bổ sung chi tiết công việc được quy định tại Điều 3 của Hợp đồng, thời hạn thanh toán và quyền, nghĩa vụ của các bên.

Thực hiện hợp đồng, Công ty R hoàn thành tất cả các hạng mục công việc trong thời hạn, Công ty AG đã nhận bàn giao và đưa vào sử dụng clip ca nhạc từ ngày 04/01/2019 cho đến nay.

Theo thỏa thuận, Công ty AG đã thanh toán 50% giá trị ngay khi ký hợp đồng và Phụ lục 1 với tổng số tiền là 4.826.329.089 đồng, 50% tổng giá trị còn lại Công ty AG có nghĩa vụ thanh toán trong thời hạn 10 ngày làm việc sau khi Công ty R hoàn tất công việc. Ngày 23/01/2019, Công ty R đã gửi toàn bộ hồ sơ thanh toán cho Công ty AG bao gồm: Giấy đề nghị thanh toán, Biên bản nghiệm thu và thanh lý hợp đồng, Hóa đơn giá trị gia tăng và bảng kê chi tiết các hạng mục công việc đã thực hiện. Tuy nhiên, cho đến nay Công ty AG vẫn chưa thanh toán số tiền còn lại của hợp đồng là 4.920.584.155 đồng.

Ngày 24/10/2018, Công ty R và Công ty AG ký kết Hợp đồng số:

24102018/HĐKT/R-AG (sau đây gọi là Hợp đồng số 2410) về việc cung cấp gói dịch vụ sản xuất clip TVC 30s cho Dự án AG 2018. Hợp đồng có thời hạn thực hiện kể từ ngày ký đến hết ngày 25/12/2018 với tổng giá trị là 2.552.846.912 đồng (đã bao gồm VAT). Công ty AG đã thanh toán số tiền 1.276.423.456 đồng tương đương với 50% giá trị ngay khi ký hợp đồng, 50% giá trị còn lại các bên thỏa thuận thanh toán trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ khi Công ty R hoàn tất công việc. Kết thúc thời hạn hợp đồng, Công ty R hoàn thành toàn bộ dịch vụ, Công ty AG đã nhận và đưa vào sử dụng clip TVC 30s từ ngày 04/01/2019. Mặc dù đã nhận đầy đủ hồ sơ nghiệm thu và đề nghị thanh toán từ ngày 23/01/2019 nhưng đến nay Công ty AG vẫn chưa thanh toán 50% giá trị còn lại của hợp đồng theo như thỏa thuận.

Mặc dù liên tục bị yêu cầu, tuy nhiên Công ty AG vẫn không thanh toán toàn bộ số nợ còn thiếu của cả hai hợp đồng nêu trên cho Công ty R. Việc chậm thanh toán này đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ được quy định tại hợp đồng. Do đó Công ty R khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc Công ty AG phải: Thanh toán ngay số nợ gốc là 6.197.007.611 đồng, bao gồm: 4.920.584.155 đồng của Hợp đồng số: 23102018/HĐKT/R-AG và 1.276.423.456 đồng của Hợp đồng số: 24102018/HĐKT/R-AG; Thanh toán tiền phạt vi phạm hợp đồng với mức phạt 0,3% trên tổng số nợ gốc cho mỗi tuần trễ hạn và trong thời gian 26 tuần tương đương số tiền 483.366.593 đồng; Thanh toán tiền lãi chậm trả với mức lãi suất 15%/năm tính từ ngày 25/01/2019 đến ngày 25/12/2019 tương đương số tiền 852.088.546 đồng. Tổng cộng, Công ty AG phải thanh toán cho Công ty R số tiền 7.532.462.750 đồng, ngoài ra còn phải tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh trên số dư nợ gốc cho đến khi trả hết toàn bộ khoản nợ.

* Theo Đơn khởi kiện ngày 30/12/2019 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn Công ty Cổ phần RA có ông Võ Thanh H là người đại diện theo pháp luật và ông Trần Minh T là người đại diện theo ủy quyền thống nhất trình bày như sau:

Ngày 20/12/2018, Công ty Cổ phần RA (sau đây gọi là Công ty RA) và Công ty AG ký kết Hợp đồng số: 20122018/HĐDV/RDA-AG (sau đây gọi là Hợp đồng số 2012) về việc cung cấp dịch vụ quảng cáo cho thương hiệu “AG” trên nền tảng chạy quảng bá clip ca nhạc và clip TVC 30s thuộc quyền sở hữu của Công ty AG trên mạng xã hội (google, youtube, facebook), kết hợp đồng thời với các dịch vụ quảng cáo khác (như phát triển hình ảnh, tổ chức họp báo…) thể hiện chi tiết trong phụ lục đính kèm.

Thời hạn thực hiện hợp đồng bắt đầu từ ngày ký và kết thúc tương ứng thời gian kết thúc của từng hạng mục dịch vụ.

Tổng giá trị của hợp đồng là 10.901.560.731 đồng (đã bao gồm VAT), được thanh toán theo phương thức: 5.450.780.366 đồng ngay khi ký hợp đồng, 3.270.468.219 đồng khi hoàn thành 80% dịch vụ và 2.180.312.146 đồng khi hoàn thành toàn bộ dịch vụ. Các bên cũng thỏa thuận cụ thể về phương thức nghiệm thu cho từng hạng mục, xử lý vi phạm, tạm ngưng và chấm dứt hợp đồng.

Thực hiện hợp đồng, Công ty RA đã hoàn thành toàn bộ các hạng mục dịch vụ, gửi nghiệm thu chi tiết như thỏa thuận cho Công ty AG và đồng thời gửi hồ sơ đề nghị thanh toán vào các ngày 20/5/2019 (số tiền 2.872.468.667 đồng), ngày 05/6/2019 (số tiền 801.785.599 đồng), ngày 27/12/2019 (số tiền 976.781.080 đồng). Tuy nhiên, cho đến nay Công ty AG mới chỉ thanh toán được đợt 1 với số tiền 5.450.780.366 đồng.

Hiện tại, Công ty AG còn nợ tổng số tiền của hợp đồng là 4.651.035.346 đồng. Việc Công ty AG trì hoãn thanh toán là vi phạm hợp đồng, xâm phạm lợi ích hợp pháp của bên cung cấp dịch vụ.

Do đó Công ty RA khởi kiện yêu cầu thu hồi toàn bộ số nợ và buộc Công ty AG phải chịu tiền lãi phát sinh trên dư nợ từ ngày 31/5/2019 đến ngày 31/12/2019 với mức lãi suất 0,05%/ngày, tương đương với số tiền 394.986.299 đồng. Tổng cộng số tiền Công ty AG phải thanh toán cho Công ty RA là 5.046.021.645 đồng.

* Tại Bản tự khai ngày 21/02/2020 và các phiên làm việc, hòa giải tại Tòa án, bị đơn Công ty Cổ phần AG có bà Nguyễn Thị Thùy D, bà Dương Thanh H, bà Trương Quỳnh G1 là người đại diện theo ủy quyền thống nhất trình bày như sau:

Công ty AG xác nhận việc ký kết Hợp đồng số 23102018/HĐKT/R-AG ngày 23/10/2018, Phụ lục 1 ngày 20/11/2018, Phụ lục 2 ngày 12/12/2018 và Hợp đồng số 24102018/HĐKT/R-AG ngày 24/10/2018 với Công ty R. Những nội dung, điều khoản thỏa thuận tại các hợp đồng đúng như trình bày của Công ty R. Hiện tại cả hai hợp đồng đều đã hết hạn thực hiện.

Hợp đồng số 23102018/HĐKT/R-AG và các phụ lục kèm theo có tổng giá trị là 9.652.658.178 đồng, Công ty AG đã thanh toán được 50% tương đương số tiền 4.826.329.089 đồng, 50% giá trị còn lại được thỏa thuận thanh toán sau khi Công ty R hoàn tất các hạng mục công việc nêu tại hợp đồng. Ngày 04/01/2019, Công ty AG đã nhận bàn giao và đưa vào sử dụng kết quả thực hiện dịch vụ là clip ca nhạc cho Dự án AG 2018. Ngày 23/01/2019, Công ty AG đã nhận đầy đủ hồ sơ nghiệm thu và đề nghị thanh toán của Công ty R với số tiền yêu cầu là 5.495.928.155 đồng.

Hợp đồng số 24102018/HĐKT/R-AG có tổng giá trị là 2.552.846.912 đồng, Công ty AG đã thanh toán được 50% tương đương số tiền 1.276.423.456 đồng, số tiền còn lại sẽ được thanh toán sau khi Công ty R hoàn tất các công việc. Ngày 04/01/2019, Công ty AG đã nhận bàn giao và đưa vào sử dụng sản phẩm dịch vụ là clip TVS 30s. Ngày 23/01/2019, Công ty AG đã nhận đầy đủ hồ sơ nghiệm thu và đề nghị thanh toán của Công ty R với số tiền yêu cầu là 1.276.423.456 đồng.

Không đồng ý với kết quả nghiệm thu và số tiền đề nghị thanh toán của cả hai hợp đồng, ngày 23/4/2019 Công ty AG đã gửi email phản hồi, yêu cầu Công ty R cung cấp những tài liệu chứng minh đã hoàn thành xong tất cả các hạng mục công việc (chi tiết như: hợp đồng giữa Công ty R và ca sĩ HNH, diễn viên KL, nhạc sĩ DKL, cũng như các đối tác khác liên quan đến quá trình thực hiện dịch vụ, hợp đồng lao động với các nhân sự trong ekip sản xuất clip và các hóa đơn, chứng từ cho những chi phí cụ thể khác). Đây là cơ sở để tiến hành nghiệm thu thực tế và quyết toán giữa hai bên. Tuy nhiên, cho đến nay Công ty R vẫn không cung cấp các tài liệu này, mặt khác còn gửi nhiều công văn yêu cầu thanh toán số tiền không tương xứng với khối lượng công việc đã thực hiện. Công ty AG cũng đã gửi các văn bản phản hồi vào ngày 27/11/2019 và ngày 12/12/2019 về việc tiếp tục yêu cầu Công ty R cung cấp các tài liệu như đã liệt kê trong email ngày 23/4/2019. Hiện tại hai bên vẫn chưa thống nhất số tiền còn phải thanh toán, Công ty AG chưa ký biên bản nghiệm thu theo đề nghị của Công ty R.

Công ty AG không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty R, vì những lý do sau: Thứ nhất, giá trị của các hợp đồng mà Công ty AG đã ký với Công ty R cao hơn khoảng 06 lần so với giá thị trường; Thứ hai, kết quả của dịch vụ là sản phẩm clip ca nhạc và clip TVC 30s không đạt chất lượng theo yêu cầu của Công ty AG và cam kết tại hợp đồng là “đảm bảo ấn tượng, sáng tạo, tạo hiệu ứng tốt, mạnh đối với thương hiệu AG”; Thứ ba, biên bản nghiệm thu dịch vụ chưa được Công ty AG ký xác nhận do Công ty R chưa cung cấp được các tài liệu chứng minh đã hoàn thành xong công việc. Về phương hướng giải quyết tranh chấp, Công ty AG đề nghị Công ty R cung cấp các tài liệu (như đã nêu trong file đính kèm email ngày 23/4/2019) làm cơ sở nghiệm thu thực tế, tiến tới thanh lý và quyết toán các hợp đồng đã ký giữa hai bên.

Đối với Công ty RA, Công ty AG xác nhận việc ký kết và thực hiện Hợp đồng dịch vụ quảng cáo số 20122018/HĐDV/RDA-AG ngày 20/12/2018 với nội dung, điều khoản đúng như trình bày của Công ty RA. Hợp đồng nhằm mục đích nâng hạng nhận diện thương hiệu của Công ty AG trên thị trường bất động sản, với 09 hạng mục công việc cụ thể bao gồm: Media booking, Social, PR, Quản lý Fanpage, LCD, Phát triển hình ảnh chủ đạo, Billboard, Họp báo ra mắt MV và Quảng cáo trên xe bus (trong đó, hạng mục LCD và Billboard do Công ty AG phụ trách thực hiện). Hợp đồng có tổng giá trị là 10.901.560.731 đồng (đã bao gồm VAT), Công ty AG đã thanh toán được đợt 1 số tiền 5.450.780.366 đồng tương đương với 50% giá trị, đợt 2 và đợt 3 được thỏa thuận thanh toán tương ứng khi Công ty RA hoàn thành 80% và 100% dịch vụ. Hợp đồng có thời hạn thực hiện kể từ ngày ký và dự kiến kết thúc vào tháng 02/2019 tương ứng với thời gian hoàn thành theo kế hoạch của từng hạng mục. Ngày 30/01/2019, do xét thấy mục tiêu truyền thông chưa đáp ứng được tiêu chí đưa ra nên Công ty AG đã ban hành thông báo tạm ngưng thực hiện dịch vụ. Hiện tại, thời hạn thực hiện hợp đồng đã hết, Công ty AG đã nhận và đưa vào sử dụng 07 hạng mục công việc của hợp đồng, đồng thời Công ty RA cũng đã gửi đầy đủ hồ sơ thanh toán, tuy nhiên Công ty AG chưa ký biên bản nghiệm thu và thanh lý do không đồng ý với kết quả công việc và đề nghị thanh toán.

Công ty AG không đồng ý yêu cầu khởi kiện của Công ty RA, vì những lý do sau: Thứ nhất, trong quá trình thực hiện Hợp đồng, Công ty RA đã có những vi phạm như tự thay đổi độ tuổi mục tiêu tiếp cận từ nhóm 25 – 54 tuổi thành 18 tuổi và nhóm không xác định độ tuổi (sai so với Bảng chi phí ước tính – Đặt vị trí Digital), tự thay đổi xe bus đặt bảng quảng cáo từ các tuyến số 03, 11 sang các số 31, 4 (Bảng báo giá chi phí xe bus thỏa thuận 06 tuyến là 03, 07, 28, 11, 36, 38); Thứ hai, hạng mục Social không đạt được lượng tương tác và hiệu quả truyền thông như thỏa thuận tại bảng chi phí ước tính. Công ty AG chỉ đồng ý thanh toán số tiền còn lại tương ứng với khối lượng công việc đã thực hiện là 639.463.860 đồng.

Liên quan đến quá trình nghiệm thu dịch vụ, Công ty AG xác nhận ông Hoàng Đức Kh là Giám đốc đối ngoại của công ty có trách nhiệm và được chỉ định trong hợp đồng về việc tiếp nhận hồ sơ, các thông báo, công văn trao đổi qua lại giữa các bên. Tuy nhiên, thực tế ông Kh đã tiếp nhận và đồng ý toàn bộ hồ sơ nghiệm thu do Công ty R và Công ty RA cung cấp là vượt quá thẩm quyền và không có giá trị pháp lý. Công ty AG không ủy quyền cho bất kỳ người nào khác thay mặt công ty để ký xác nhận nghiệm thu với Công ty R và Công ty RA.

* Theo Đơn yêu cầu phản tố ngày 18/02/2020, đơn bổ sung yêu cầu phản tố ngày 26/02/2020 và các lời khai tại Tòa án, bị đơn Công ty AG và những người đại diện hợp pháp thống nhất trình bày như sau:

Ngày 19/11/2019, Công ty R đã gửi hai văn bản đến ông YM là cổ đông đồng thời là đại diện cho đối tác đầu tư (Quỹ đầu tư Nhật Bản) tại Công ty AG và Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh, với cùng một nội dung là thông báo sai sự thật về việc Công ty AG đang nợ quá hạn Công ty R. Vào thời điểm này, Hợp đồng số 23102018/HĐKT/R-AG và Hợp đồng số 24102018/HĐKT/R-AG được ký kết và thực hiện giữa hai bên vẫn đang trong quá trình cố gắng nghiệm thu và thống nhất số tiền còn lại phải thanh toán. Việc làm này của Công ty R không chỉ vi phạm nội dung các hợp đồng mà còn vi phạm nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp của chính Công ty R, gây thiệt hại nghiêm trọng đến uy tín, danh dự và việc niêm yết trên sàn chứng khoán của Công ty AG.

Do Công ty R đã vi phạm nghĩa vụ bảo mật thông tin nên căn cứ quy định tại Điều 7 của Hợp đồng số 23102018/HĐKT/R-AG ngày 23/10/2018 và Hợp đồng số 24102018/HĐKT/R-AG ngày 24/10/2018, Công ty AG phản tố yêu cầu Công ty R phải bồi thường 100% giá trị của cả hai hợp đồng với tổng số tiền là 12.205.505.090 đồng.

* Theo Bản tự khai ngày 18/5/2020 và các phiên hòa giải tại Tòa án, nguyên đơn Công ty Cổ phần R có ông Trần Minh T là người đại diện theo ủy quyền trình bày như sau:

Công ty R không đồng ý yêu cầu phản tố của bị đơn Công ty AG. Công ty R thừa nhận việc phát hành hai văn bản nêu trên, tuy nhiên nội dung không thuộc phạm vi bảo mật, Công ty R không vi phạm bất kỳ nghĩa vụ nào của hợp đồng. Công ty AG đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ thanh toán, Công ty R có toàn quyền yêu cầu và áp dụng các biện pháp nhắc nhở. Mặt khác, thông tin có trong văn bản đã được thể hiện công khai trong clip ca nhạc và clip TVC 30s (bao gồm nhà sản xuất và chủ sở hữu), giá trị của hợp đồng và số tiền đã thanh toán được Công ty AG thể hiện chi tiết trong Báo cáo tài chính hợp nhất giữa niên độ ngày 30/6/2019 và Bản cáo bạch niêm yết trên sàn chứng khoán. Việc phản tố này của bị đơn chỉ nhằm trì hoãn nghĩa vụ thanh toán vốn đã chậm trễ tới gần hai năm, xâm phạm lợi ích hợp pháp của Công ty R.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 511/2020/KDTM-ST ngày 21/7/2020 của Tòa án nhân dân Quận 3 (có sửa chữa, bổ sung theo Quyết định số 248b/2020/QĐ-SCBS ngày 27/7/2020) tuyên xử:

1. Đình chỉ giải quyết một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần R về việc buộc bị đơn Công ty Cổ phần AG thanh toán tiền phạt vi phạm nghĩa vụ thanh toán của Hợp đồng số 23102018/HĐKT/R-AG ngày 23/10/2018 và Hợp đồng số 24102018/HĐKT/R-AG ngày 24/10/2018 với tổng số tiền là 483.366.593 đồng (Bốn trăm tám mươi ba triệu ba trăm sáu mươi sáu ngàn năm trăm chín mươi ba đồng).

2. Đình chỉ giải quyết một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần RA về việc buộc bị đơn Công ty Cổ phần AG thanh toán tiền lãi chậm trả của Hợp đồng số 20122018/HĐDV/RDA-AG ngày 20/12/2018 với tổng số tiền là 394.986.299 đồng (Ba trăm chín mươi tư triệu chín trăm tám mươi sáu ngàn hai trăm chín mươi chín đồng) và chi phí cho việc lắp đặt biển quảng cáo trên hai tuyến xe bus số 31 và số 4 với tổng số tiền là 165.000.000 (Một trăm sáu mươi lăm triệu đồng).

3. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần R:

Công ty Cổ phần AG có trách nhiệm thanh toán cho Công ty Cổ phần Quảng cáo R số tiền còn thiếu của Hợp đồng số 23102018/HĐKT/R-AG ngày 23/10/2018 và Hợp đồng số 24102018/HĐKT/R-AG ngày 24/10/2018 là 6.102.752.545 đồng (Sáu tỉ một trăm lẻ hai triệu bảy trăm năm mươi hai ngàn năm trăm bốn mươi lăm đồng) và tiền lãi chậm trả tính từ ngày 14/02/2019 đến ngày xét xử sơ thẩm là 781.152.326 đồng (Bảy trăm tám mươi mốt triệu một trăm năm mươi hai ngàn ba trăm hai mươi sáu đồng). Việc thanh toán được thực hiện ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày Công ty Cổ phần R có đơn yêu cầu thi hành án, nếu Công ty Cổ phần AG không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ việc thanh toán thì hàng tháng Công ty Cổ phần AG còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 306 của Luật Thương mại.

4. Không chấp nhận phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần R về việc buộc bị đơn Công ty Cổ phần AG thanh toán số tiền còn thiếu đối với giá trị nghiệm thu tăng thêm so với Hợp đồng số 23102018/HĐKT/R- AG ngày 23/10/2018 là 94.255.066 đồng (Chín mươi tư triệu hai trăm năm mươi lăm ngàn không trăm sáu mươi sáu đồng).

Không chấp nhận một phần yêu cầu thanh toán lãi chậm trả của nguyên đơn Công ty Cổ phần R đối với bị đơn Công ty Cổ phần AG, cụ thể số tiền không được chấp nhận là 28.988.074 đồng (Hai mươi tám triệu chín trăm tám mươi tám ngàn không trăm bảy mươi bốn đồng).

5. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần RA:

Công ty Cổ phần AG có trách nhiệm thanh toán cho Công ty Cổ phần RA số tiền còn thiếu của Hợp đồng số 20122018/HĐDV/RDA-AG ngày 20/12/2018 là 4.486.035.346 đồng (Bốn tỉ bốn trăm tám mươi sáu triệu không trăm ba mươi lăm ngàn ba trăm bốn mươi sau đồng). Việc thanh toán được thực hiện ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày Công ty Cổ phần RA có đơn yêu cầu thi hành án, nếu Công ty Cổ phần AG không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ việc thanh toán thì hàng tháng Công ty Cổ phần AG còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 306 của Luật Thương mại.

6. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn Công ty Cổ phần AG về việc buộc nguyên đơn Công ty Cổ phần R bồi thường số tiền 12.205.505.090 đồng (Mười hai tỷ hai trăm lẻ năm triệu năm trăm lẻ năm ngàn không trăm chín mươi đồng) do vi phạm nghĩa vụ bảo mật thông tin của Hợp đồng số 23102018/HĐKT/R-AG ngày 23/10/2018 và Hợp đồng số 24102018/HĐKT/R- AG ngày 24/10/2018.

Ngoài ra án sơ thẩm còn giải quyết các vấn đề về án phí , quyền, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 30/7/2020, bị đơn Công ty Cổ phần AG có đơn kháng cáo với nội dung kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn Công ty AG là bà Dương Thanh H xin rút một phần nội dung kháng cáo đối với bản án sơ thẩm về việc đình chỉ và không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn (mục 1, 2 và 4 phần quyết định của bản án sơ thẩm); Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị đơn, sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn, chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn với các lý do sau đây:

- Đối với hai Hợp đồng số 23102018/HĐKT/R-AG, số 24102018/HĐKT/R-AG, Công ty AG cho rằng chưa phát sinh nghĩa vụ thanh toán do các bên chưa thống nhất được hồ sơ nghiệm thu, Công ty R không hoàn thành đầy đủ các hạng mục công việc được các bên thảo thuận chi tiết tại Phụ lục báo giá đính kèm Hợp đồng và sản phẩm bàn giao cho Công ty AG không đạt chất lượng đã cam kết. Vì vậy, Công ty AG đề nghị Công ty R cung cấp các hồ sơ chứng minh đã thực hiện đầy đủ các hạng mục công việc tại Phụ lục báo giá đính kèm Hợp đồng, cung cấp các hợp đồng thuê địa điểm ghi hình tại các studio, đạo cụ, nhân công dựng cảnh, các hợp đồng lao động với các nhân sự, đối tác tham gia xây dựng lên các clip nhạc và clip TVC... Nếu Công ty R không cung cấp vì cho rằng phải bảo mật thông tin thì Công ty AG đề nghị triệu tập tất cả những người đó tham gia phiên tòa với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để Công ty AG có cơ sở thanh toán. Nếu Công ty R không đáp ứng được các tiêu chí trên thì Công ty AG chỉ đồng ý thanh toán thêm tối đa 2.000.000.000 đồng cho hai hợp đồng này.

- Đối với Hợp đồng dịch vụ quảng cáo số 20122018/HĐDV/RDA-AG, Công ty AG cho rằng Công ty RA đã tự ý thay đổi các hạng mục, nội dung quảng cáo khác với sự thỏa thuận của các bên và chiến lược chạy quảng cáo của Công ty RA không đạt được kết quả, không đạt được mục tiêu đã cam kết tại Bảng mô tả công việc đính kèm Hợp đồng. Vì vậy, Công ty AG đề nghị chỉ thanh toán giá trị hợp đồng tương ứng khối lượng công việc thực tế mà Công ty RA đã đạt được. Căn cứ trên kết quả chạy quảng cáo thực tế, Công ty RA chỉ đạt được 40% khối lượng công việc đã cam kết nên Công ty AG chỉ đồng ý thanh toán thêm tối đa 1.000.000.000 đồng cho hợp đồng này.

- Về việc Công ty R cho rằng chỉ đến ngày 23/4/2019 AG mới phản hồi về biên bản nghiệm thu là không đúng vì ngay sau khi nhận email đính kèm sản phảm và biên bản nghiệm thu của Công ty R thì nhân viên Công ty AG đã phản hồi và yêu cầu Công ty R trả lời về chất lượng sản phẩm. Tất cả vấn đề này thể hiện qua email qua lại giữa nhóm làm việc của Công ty AG và Công ty R. Việc này tại cấp sơ thẩm Công ty AG có đề cập nhưng không hiểu sao trong các biên bản hòa giải và phiên tòa đều không có.

- Đối với yêu cầu phản tố, tại Điều 7.1 của hai Hợp đồng số 23102018/HĐKT/R-AG, số 24102018/HĐKT/R-AG quy định: “Bên B (tức Công ty R) cam kết sẽ không tiết lộ ra hoặc truyền đạt cho bất kỳ thông tin mật nào liên quan đến Bên A (tức Công ty AG) và tất cả các thông tin liên quan đến Hợp đồng này nhận được hoặc tạo ra bởi Bên B trong suốt thời hạn thực hiện Hợp đồng. Bên B sẽ không được tiết lộ việc mình đang cung ứng dịch vụ cho Bên A cho bất kỳ bên thứ ba nào”. Ngày 19/11/2019, Công ty R đã gửi hai văn bản đến ông YM là cổ đông đồng thời là đại diện cho đối tác đầu tư (Quỹ đầu tư Nhật Bản) tại Công ty AG và Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh, với cùng một nội dung là thông báo sai sự thật về việc Công ty AG đang nợ quá hạn Công ty R. Việc làm này của Công ty R không chỉ vi phạm nội dung các hợp đồng mà còn vi phạm nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp của chính Công ty R, gây thiệt hại nghiêm trọng đến uy tín, danh dự và việc niêm yết trên sàn chứng khoán của Công ty AG. Vì vậy, Công ty R phải bồi thường cho Công ty AG 100% giá trị của cả hai hợp đồng với tổng số tiền là 12.205.505.090 đồng.

- Ngoài ra, Công ty AG còn cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm đã có nhiều sai sót trong quá trình giải quyết vụ án.

Người đại diện theo ủy quyền của các nguyên đơn là ông Trần Minh T, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn Luật sư Nguyễn Hữu T1 đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm vì các lý do sau đây:

- Công ty R và Công ty RA đã hoàn thành tất cả các hạng mục công việc trong thời hạn của hai Hợp đồng số 23102018/HĐKT/R-AG, số 24102018/HĐKT/R-AG. Công ty AG đã nhận bàn giao, đưa vào sử dụng clip ca nhạc, clip TVC 30s và không có phản hồi gì về chất lượng của sản phẩm. Cụ thể, ngày 23/01/2019 Công ty R đã gửi bản nghiệm thu cả bản cứng và bản hồ sơ thanh toán của cả hai hợp đồng gồm: Giấy đề nghị thanh toán, hóa đơn giá trị gia tăng, biên bản nghiệm thu dịch vụ và thanh lý hợp đồng cho Công ty AG nhưng quá thời hạn phản hồi về chất lượng của sản phẩm mà Công ty AG không có phản hồi biên bản nghiệm thu nên sau 10 ngày Công ty AG có trách nhiệm thanh toán. Chỉ đến ngày 23/4/2019 (đã quá thời hạn phản hồi theo thỏa thuận) Công ty AG mới có email phản hồi yêu cầu đối chiếu. Vì vậy, Công ty AG phải thanh toán giá trị còn lại của hai hợp đồng cho Công ty R và Công ty RA.

- Công ty R và Công ty RA thừa nhận có gửi hai văn bản đến ông YM là cổ đông đồng thời là đại diện cho đối tác đầu tư (Quỹ đầu tư Nhật Bản) tại Công ty AG và Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh, với cùng một nội dung là thông báo về việc Công ty AG đang nợ quá hạn Công ty R và Công ty RA theo ba hợp đồng đã ký kết. Tuy nhiên Công ty R không vi phạm điều khoản bảo mật vì cung cấp thông tin về khoản nợ của Công ty AG nên Công ty R không có nghĩa vụ bồi thường cho Công ty AG vì các lý do sau đây:

+ Thông tin đã được công khai tại website của Công ty AG khi báo cáo tài chính bán niên ngày 30/6/2019;

+ Thông tin đã được Công ty AG công khai gửi cho Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh và được niêm yết tại website của Sở giao dịch chứng khoán nên không phải thông tin mật;

+ Chứng cứ do Công ty AG cung cấp tại phiên tòa cho rằng Công ty AG chỉ niêm yết báo cáo tài chính sau thời điểm ngày 19/12/2019 là không có căn cứ vì chứng cứ này do Công ty NM là công ty quản lý website cho Công ty AG nên có thể đưa lên, đưa xuống bất kỳ khi nào, không đáng tin cậy.

+ Ngoài ra, ông YM và Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh không phải bên thứ ba;

+ Việc Công ty R gửi hai văn bản thông báo khoản nợ là ngoài thời hạn của hợp đồng là ngày 03/02/2019 (10 ngày kể từ ngày Công ty AG nhận đủ hồ sơ thanh lý hợp lệ).

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến như sau:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử tại phiên tòa cũng như việc chấp hành pháp luật của các bên đương sự đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự; do có lý do khách quan nên không vi phạm thời hạn giải quyết vụ án.

- Về nội dung, kháng cáo của bị đơn là không có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu kháng cáo của bị đơn và căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Đơn kháng cáo của bị đơn Công ty AG còn trong thời hạn luật định, hợp lệ nên được chấp nhận.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo Công ty AG xin rút một phần nội dung kháng cáo đối với bản án sơ thẩm về việc đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn và không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty R (mục 1, 2 và 4 phần quyết định của bản án sơ thẩm), căn cứ khoản 3 Điều 284, khoản 3 Điều 289 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử quyết định đình chỉ xét xử phần kháng cáo này của Công ty AG.

[3] Trên cơ sở thừa nhận của các nguyên đơn và bị đơn, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định Hợp đồng cung cấp dịch vụ số 23102018/HĐKT/R-AG ngày 23/10/2018, Hợp đồng cung cấp dịch vụ số 23102018/HĐKT/R-AG ngày 20/11/2018, Hợp đồng dịch vụ quảng cáo số 20122018/HĐDV/RDA-AG ngày 20/12/2018 và các phụ lục kèm theo các hợp đồng được xác lập trên cơ sở tự nguyên của các bên, nội dung, mục đích và hình thức của hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật nên các hợp đồng này là hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.

[4] Về nội dung kháng cáo của bị đơn Công ty AG, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[4.1] Thứ nhất, đối với hai Hợp đồng số 23102018/HĐKT/R-AG, số 24102018/HĐKT/R-AG, Công ty AG cho rằng chưa phát sinh nghĩa vụ thanh toán do các bên chưa thống nhất được hồ sơ nghiệm thu, Công ty R không hoàn thành đầy đủ các hạng mục công việc được các bên thảo thuận chi tiết tại Phụ lục báo giá đính kèm Hợp đồng và sản phẩm bàn giao cho Công ty AG không đạt chất lượng đã cam kết, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Đối với hai Hợp đồng số 23102018/HĐKT/R-AG, số 24102018/HĐKT/R-AG, Công ty R cho rằng đã hoàn thành công việc, đã gửi toàn bộ hồ sơ thanh toán đợt 2 cho Công ty AG bao gồm: Giấy đề nghị thanh toán, Biên bản nghiệm thu và thanh lý hợp đồng, Hóa đơn giá trị gia tăng và bảng kê chi tiết các hạng mục công việc đã thực hiện. Tuy nhiên, cho đến nay Công ty AG vẫn chưa thanh toán số tiền còn lại của hai hợp đồng.

Trong khi, Công ty AG lại đề nghị Công ty R cung cấp các hồ sơ chứng minh đã thực hiện đầy đủ các hạng mục công việc tại Phụ lục báo giá đính kèm Hợp đồng, cung cấp các hợp đồng thuê địa điểm ghi hình tại các studio, đạo cụ, nhân công dựng cảnh, các hợp đồng lao động với các nhân sự, đối tác tham gia xây dựng lên các clip nhạc và clip TVC... Nếu Công ty R không cung cấp vì cho rằng phải bảo mật thông tin thì Công ty AG đề nghị triệu tập tất cả những người đó tham gia phiên tòa với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan để Công ty AG có cơ sở thanh toán.

Về nội dung hai bên tranh chấp nêu trên, nội dung của hai Hợp đồng số 23102018/HĐKT/R-AG và số 24102018/HĐKT/R-AG thể hiện như sau:

- Hai hợp đồng đều có Phụ lục báo giá đính kèm Hợp đồng. Tổng giá trị của Phụ lục báo giá đính kèm Hợp đồng tương ứng với giá trị của hợp đồng (Điều 2 của hai hợp đồng).

- Tại Điều 1.1, Điều 2.1 và Điều 3 của hai hợp đồng các bên thỏa thuận “Dịch vụ” được hiểu như sau: Nghĩa là các dịch vụ được cung cấp bởi Công ty R cho Công ty AG liên quan đến Sản phẩm được quy định tại Phụ lục của hợp đồng; Công ty AG theo đây đồng ý giao và Công ty R đồng ý nhận cung cấp dịch vụ mô tả tại Điều 3 của hợp đồng và theo đó Công ty AG sẽ thanh toán cho Công ty R một khoản phí dịch vụ tương ứng như được quy định của hợp đồng kho hoàn thành; Công ty AG đồng ý chỉ định Công ty R và Công ty R đồng ý cung cấp dịch vụ theo các điều khoản và điều kiện của hợp đồng cung cấp gói dịch vụ sản suất clip ca nhạc và 01 clip TVC 30s. Nội dung chi tiết các hạng mục công việc đã được hai bên thống nhất, chi tiết các hạng mục công việc được quy định trong phụ lục đính kèm.

- Tại Điều 4.2 của hai hợp đồng các bên thỏa thuận hồ sơ thanh toán đợt 2 của hai hợp đồng gồm: Giấy đề nghị thanh toán, Hóa đơn GTGT và Biên bản nghiệm thu Dịch vụ & Thanh lý hợp đồng.

Theo đó, có cơ sở xác định rằng, “Dịch vụ” là đối tượng của hai hợp đồng được các bên xác định là những hạng mục công việc và chi tiết các hạng mục công việc được quy định trong phụ lục đính kèm hợp đồng. Tuy nhiên, trong hợp đồng, các bên thỏa thuận hồ sơ thanh toán đợt 2 có tài liệu là “Biên bản nghiệm thu Dịch vụ & Thanh lý hợp đồng” nhưng không xác định rõ nội dung của tài liệu này nên các bên hiểu khác nhau nêu trên và dẫn đến tranh chấp.

Tại Điều 4.3 của hai hợp đồng các bên thỏa thuận như sau: Trong trường hợp có thỏa thuận bằng văn bản đồng ý của Công ty AG đối với các hạng mục công việc phát sinh tăng so với hợp đồng và phù hợp với quy định tại Điều 3 hợp đồng thì Công ty AG sẽ thanh toán trên cơ sở nghiệm thu thực tế. Nếu không có sự đồng ý bằng văn bản của Công ty AG, Công ty AG có quyền không thanh toán đối với các hạng mục phát sinh ngoài hay nhiều hơn theo nội dung của hợp đồng. Mọi thỏa thuận bằng văn bản, Công ty AG phải hỗ trợ ký duyệt cho Công ty R tất cả giấy tờ liên quan cần thiết. Trong trường hợp hết thời hạn thực hiện Dịch vụ theo quy định tại Điều 3 và các hạng mục công việc ít hơn so với các hạng mục được quy định trong hợp đồng là Công ty R vi phạm hợp đồng khi đó tùy theo quyết định của mình, Công ty AG có quyền áp dụng chế tài theo Điều 6 hợp đồng hoặc khấu trừ giá trị các hạng mục không hoặc chưa thực hiện trước khi thanh toán cho Công ty R.

Theo đó, có cơ sở xác định rằng, tại Điều 4.3 của hai hợp đồng, các bên đã thỏa thuận việc nghiệm thu thực tế, để xác định các hạng mục công việc của “Dịch vụ” phát sinh tăng, các hạng mục công việc không hoặc chưa thực hiện trước khi thanh toán. Vì vậy, Công ty AG đề nghị Công ty R cung cấp các hồ sơ chứng minh đã thực hiện đầy đủ các hạng mục công việc tại Phụ lục báo giá đính kèm hai hợp đồng để có cơ sở thanh toán là phù hợp với thỏa thuận của các bên, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chưa thực hiện nên việc thu thập chứng cứ và chứng minh ở cấp sơ thẩm là chưa được thực hiện đầy đủ.

Ngoài ra, tại Điều 6.5 của hai hợp đồng, các bên còn thỏa thuận: Thời gian nghiệm thu không quá 07 ngày làm việc kể từ ngày Công ty AG xác nhận đã nhận được biên bản nghiệm thu bằng văn bản. Nếu quá thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày xác nhận nhận được biên bản nghiệm thu, mà Công ty R không nhận được phản hồi bằng văn bản, công văn, fax, email từ Công ty AG thì xem như Công ty AG đồng ý với số tiền & điều khoản nghiệm thu mà Công ty R đã cung cấp. Trong quá trình giải quyết vụ án, Công ty R cho rằng Công ty AG không có phản hồi về việc nghiệm thu trong thời hạn nêu trên, ngược lại Công ty AG cho rằng đã phản hồi trong thời hạn nêu trên. Tại phiên tòa phúc thẩm Công ty AG đã bổ sung một số email trao đổi giữa nhóm nhân viên của Công ty AG và Công ty R về việc phản hồi chất lượng sản phẩm. Đây là cơ sở để xác định Công ty AG có bị xem như đồng ý với số tiền & điều khoản nghiệm thu mà Công ty R đã cung cấp hay không. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm chưa làm rõ vấn đề này cũng là thu thập chứng cứ và chứng minh chưa đầy đủ. Tuy nhiên, đây là tình tiết mới, không do lỗi của Tòa án cấp sơ thẩm.

[4.2] Thứ hai, đối với Hợp đồng dịch vụ quảng cáo số 20122018/HĐDV/RDA-AG, Công ty AG cho rằng Công ty RA đã tự ý thay đổi các hạng mục, nội dung quảng cáo khác với sự thỏa thuận của các bên và chiến lược chạy quảng cáo của Công ty RA không đạt được kết quả, không đạt được mục tiêu đã cam kết tại Bảng mô tả công việc đính kèm Hợp đồng, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Đối với Hợp đồng dịch vụ quảng cáo số 20122018/HĐDV/RDA-AG, Công ty RA cho rằng đã hoàn thành toàn bộ các hạng mục dịch vụ, gửi nghiệm thu chi tiết như thỏa thuận cho Công ty AG và đồng thời gửi hồ sơ đề nghị thanh toán vào các ngày 20/5/2019 (số tiền 2.872.468.667 đồng), ngày 05/6/2019 (số tiền 801.785.599 đồng), ngày 27/12/2019 (số tiền 976.781.080 đồng), tuy nhiên, cho đến nay Công ty AG mới chỉ thanh toán được đợt 1 với số tiền 5.450.780.366 đồng, là vi phạm hợp đồng, xâm phạm lợi ích hợp pháp của bên cung cấp dịch vụ.

Về nội dung hai bên tranh chấp nêu trên, nội dung của Hợp đồng dịch vụ quảng cáo số 20122018/HĐDV/RDA-AG thể hiện như sau:

- Hợp đồng có Phụ lục báo giá đính kèm Hợp đồng. Tổng giá trị của Phụ lục báo giá đính kèm Hợp đồng tương ứng với giá trị của hợp đồng (Điều 1 của hợp đồng). Phụ lục đính kèm còn thể hiện chi tiết các dịch vụ quảng cáo, tiêu chí đánh giá hoàn thành dịch vụ phù hợp với thỏa thuận về việc nghiệm thu dịch vụ tại Điều 3 của hợp đồng.

- Tại Điều 2.2 của hợp đồng các bên thỏa thuận hồ sơ thanh toán đợt 2 của hợp đồng gồm: Giấy đề nghị tạm ứng, hóa đơn giá trị gia tăng, biên bản nghiệm thu đợt 1 tương ứng 80% giá trị hợp đồng đã ký.

- Tại Điều 2.3 của hợp đồng các bên thỏa thuận hồ sơ thanh toán đợt 3 của hợp đồng gồm: Giấy đề nghị thanh toán, hóa đơn giá trị gia tăng, biên bản nghiệm thu và thanh lý hợp đồng công việc Công ty RA đã thực hiện và hoàn thành 100% dịch vụ quảng cáo theo Điều 1 của hợp đồng có chữ ký cả hai bên.

- Tại Điều 3.4 của hợp đồng các bên thỏa thuận như sau: Ngay sau khi hoàn tất việc cung cấp dịch vụ quảng cáo theo thỏa thuận trong hợp đồng và/hoặc sau khi Công ty RA hoàn tất việc đăng bù quảng cáo, đăng đính chính thông tin (do có lỗi sai sót cả Công ty RA), Công ty RA cung cấp cho Công ty AG biên bản nghiệm thu (trong đó nêu rõ các nội dung đã hoàn thành) để Công ty AG kiểm tra, xác nhận và làm căn cứ tiến hành thanh toán đợt 2 theo thỏa thuận trong hợp đồng.

Theo đó, có cơ sở xác định rằng, “Dịch vụ quảng cáo” là đối tượng của hợp đồng được các bên xác định chi tiết tại Điều 1 của hợp đồng, chi tiết các dịch vụ quảng cáo, tiêu chí đánh giá hoàn thành dịch vụ còn được xác định cụ thể tại Phụ lục đính kèm hợp đồng; đồng thời, việc “Nghiệm thu dịch vụ” để lập “Biên bản nghiệm thu đợt 1” và “Biên bản nghiệm thu và thanh lý hợp đồng” là cơ sở để Công ty AG thanh toán đợt 2 và đợt 3 cho Công ty RA.

Vì vậy, việc Công ty AG cho rằng Công ty RA đã tự ý thay đổi các hạng mục, nội dung quảng cáo khác với sự thỏa thuận của các bên và chiến lược chạy quảng cáo của Công ty RA không đạt được kết quả, không đạt được mục tiêu đã cam kết tại Bảng mô tả công việc đính kèm Hợp đồng cần phải được xem xét, tiến hành đối chiếu để xác định mức độ hoàn thành công việc của Công ty RA mới có cơ sở xác định nghĩa vụ thanh toán của Công ty AG, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chưa thực hiện nên việc thu thập chứng cứ và chứng minh ở cấp sơ thẩm là chưa được thực hiện đầy đủ.

[4.3] Thứ ba, đối với yêu cầu phản tố, Công ty AG cho rằng, ngày 19/11/2019, Công ty R đã gửi hai văn bản đến ông YM là cổ đông đồng thời là đại diện cho đối tác đầu tư (Quỹ đầu tư Nhật Bản) tại Công ty AG và Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh, với cùng một nội dung là thông báo sai sự thật về việc Công ty AG đang nợ quá hạn Công ty R là vi phạm Điều 7.1 của hai Hợp đồng số 23102018/HĐKT/R-AG, số 24102018/HĐKT/R-AG, vi phạm nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp của chính Công ty R, gây thiệt hại nghiêm trọng đến uy tín, danh dự và việc niêm yết trên sàn chứng khoán của Công ty AG nên phải bồi thường cho Công ty AG 100% giá trị của cả hai hợp đồng với tổng số tiền là 12.205.505.090 đồng, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Tại Điều 1.1 của hai Hợp đồng số 23102018/HĐKT/R-AG, số 24102018/HĐKT/R-AG các bên định nghĩa “Thông tin mật” như sau: Nghĩa là, liên quan đến mỗi bên, bất kỳ bí quyết, thông số kỹ thuật thuộc sở hữu riêng, hoặc các thông tin khác mang tính chất kỹ thuật thuộc sở hữu của Công ty AG, cùng toàn bộ các bí mật thương mại hoặc thông tin bảo mật khác có liên quan đến công việc kinh doanh, thông tin thương mại hoặc tài chính của Bên đó (bao gồm nhưng không giới hạn ở bất kỳ thông tin nào có liên quan đến các hoạt động, sản phảm, quy trình, phương pháp, công thức, kế hoạch, ý định, dự án, cơ hội thị trường, nhà cung cấp, thông tin khác hàng, hoạt động tiếp thị, hoạt động bán hàng, phần mềm, hệ thống máy tính và viễn thông, chi phí và giá, mức lương, hồ sơ và nhân sự), được cung cấp bằng cách khác trao cho Công ty R, hoặc trở thành được nắm giữ bởi Công ty R, có liên quan đến hoặc theo một cách khác có liên quan đến hợp đồng.

Tại Điều 7 hai Hợp đồng số 23102018/HĐKT/R-AG, số 24102018/HĐKT/R-AG các bên thỏa thuận về “Bảo mật” cơ bản như sau: Công ty R cam kết sẽ không tiết lộ, để lộ ra hoặc truyền đạt cho bất kỳ bên thứ ba nào ngoài những người được chỉ định bằng văn bản bởi Công ty AG và tất cả các thông tin liên quan đến hợp đồng được nhận hoặc được tạo ra bởi Công ty R trong suốt thời hạn của hợp đồng. Công ty R sẽ không được tiết lộ việc mình đang cung ứng dịch vụ cho Công ty AG cho bất kỳ bên thứ ba nào…; Khi chấm dứt hay hết hạn hợp đồng, Công ty R theo hướng dẫn của Công ty AG, phải trả lại hoặc hủy toàn bộ thông tin mật của Công ty AG mà mình đang nắm giữ hay kiểm soát; Công ty R tiết lộ thông tin không đúng với thỏa thuận trong hợp đồng thì phải bồi thường 100% giá trị hợp đồng cùng toàn bộ thiệt hại cho Công ty AG trong vòng 10 ngày sau khi nhận được văn bản yêu cầu; Nghĩa vụ bồi thường do vi phạm điều khoản bảo mật không phụ thuộc vào thời hạn hiệu của hợp đồng.

Theo đó, theo thỏa thuận tại hai hợp đồng, Công ty R không được tiết lộ, để lộ ra hoặc truyền đạt cho bất kỳ bên thứ ba nào ngoài những người được chỉ định bằng văn bản bởi Công ty AG và tất cả các thông tin liên quan đến hợp đồng được nhận hoặc được tạo ra bởi Công ty R trong suốt thời hạn của hợp đồng; Công ty R không được tiết lộ việc mình đang cung ứng dịch vụ cho Công ty AG cho bất kỳ bên thứ ba nào; trường hợp tiết lộ thông tin không đúng thỏa thuận thì phải bồi thường 100% giá trị hợp đồng cùng toàn bộ thiệt hại cho Công ty AG.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Công ty R và Công ty RA thừa nhận có gửi hai văn bản đến ông YM là cổ đông đồng thời là đại diện cho đối tác đầu tư (Quỹ đầu tư Nhật Bản) tại Công ty AG và Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh, với cùng một nội dung là thông báo về việc Công ty AG đang nợ quá hạn Công ty R và Công ty RA theo ba hợp đồng nêu trên. Vì vậy, có cơ sở xác định, Công ty R đã tiết lộ việc mình đang cung ứng dịch vụ cho Công ty AG cho bên thứ ba. Tuy nhiên, để có cơ sở giải quyết đúng đắn và toàn diện yêu cầu phản tố của Công ty AG cần thiết phải thu thập bổ sung ý kiến của ông YM và Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh đối với yêu cầu phản tố của Công ty AG.

Ngoài ra, tại Điều 7.4 của hai hợp đồng, các bên còn thỏa thuận về trách nhiệm bảo mật không mở rộng đến các thông tin mà: (a) Công ty R có thể đưa ra bằng chứng xác thực rằng Công ty R đã nắm giữ một cách hợp pháp trước khi tiết lộ bởi Công ty AG; (b) là hoặc trở nên công khai mà không phải do vi phạm điều khoản “Bảo mật” hay bất cứ điều khoản tương tự nào trong bất cứ thỏa thuận bảo mật nào khác liên quan; (c) hoặc được tiết lộ cho Công ty R bởi bên thứ ba có quyền tiết lộ. Trong quá trình giải quyết vụ án, Công ty R cho rằng Công ty AG đã tự công khai thông tin về các hợp đồng và khoản nợ với Công ty R trong báo cáo tài chính hợp nhất giữa niên độ ngày 30/6/2019 và bản cáo bạch niêm yết trên sản chứng khoán, trong khi Công ty AG phủ nhận điều này. Vì vậy, cần thiết phải làm rõ vấn đề này để xác định Công ty R có vi phạm nghĩa vụ bảo mật thông tin theo thỏa thuận hay không. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm chưa làm rõ vấn đề này cũng là thu thập chứng cứ và chứng minh chưa đầy đủ.

[5] Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy việc thu thập chứng cứ và chứng minh của cấp sơ thẩm chưa được thực hiện đầy đủ mà tại phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được. Do đó, yêu cầu kháng cáo của Công ty AG là có căn cứ để chấp nhận, cần hủy một phần bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

Trong quá trình giải quyết lại vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm cần khắc phục các thiếu sót nêu trên, ngoài ra, trường hợp phải tuyên lãi suất chậm thi hành án thì cần áp dụng đúng quy định tại Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử phúc thẩm nên không được chấp nhận.

[6] Về án phí:

Căn cứ khoản 3 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án do Tòa án cấp phúc thẩm hủy một phần bản án sơ thẩm bị kháng cáo để xét xử sơ thẩm lại nên đương sự kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm; nghĩa vụ chịu án phí được xác định lại khi giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng khoản 3 Điều 284, khoản 3 Điều 289 và khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự ;

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Bất động sản AG.

1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với một phần kháng cáo của Công ty Cổ phần AG.

Phần Bản án dân sự sơ thẩm số 511/2020/KDTM-ST ngày 21 tháng 7 năm 2020 của Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh (mục 1, 2 và 4 phần quyết định của bản án sơ thẩm) có hiệu lực thi hành, cụ thể như sau:

1.1. Đình chỉ giải quyết một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần R về việc buộc bị đơn Công ty Cổ phần AG thanh toán tiền phạt vi phạm nghĩa vụ thanh toán của Hợp đồng số 23102018/HĐKT/R-AG ngày 23/10/2018 và Hợp đồng số 24102018/HĐKT/R-AG ngày 24/10/2018 với tổng số tiền là 483.366.593 đồng (Bốn trăm tám mươi ba triệu ba trăm sáu mươi sáu ngàn năm trăm chín mươi ba đồng).

1.2. Đình chỉ giải quyết một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần RA về việc buộc bị đơn Công ty Cổ phần AG thanh toán tiền lãi chậm trả của Hợp đồng số 20122018/HĐDV/RDA-AG ngày 20/12/2018 với tổng số tiền là 394.986.299 đồng (Ba trăm chín mươi tư triệu chín trăm tám mươi sáu ngàn hai trăm chín mươi chín đồng) và chi phí cho việc lắp đặt biển quảng cáo trên hai tuyến xe bus số 31 và số 4 với tổng số tiền là 165.000.000 (Một trăm sáu mươi lăm triệu đồng).

1.3. Không chấp nhận phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần R về việc buộc bị đơn Công ty Cổ phần AG thanh toán số tiền còn thiếu đối với giá trị nghiệm thu tăng thêm so với Hợp đồng số 23102018/HĐKT/R- AG ngày 23/10/2018 là 94.255.066 đồng (Chín mươi tư triệu hai trăm năm mươi lăm ngàn không trăm sáu mươi sáu đồng).

1.4. Công ty Cổ phần R phải chịu án phí cho phần yêu cầu không được chấp nhận là 6.162.157 đồng (Sáu triệu một trăm sáu mươi hai ngàn một trăm năm mươi bảy đồng).

2. Hủy một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 511/2020/KDTM-ST ngày 21 tháng 7 năm 2020 của Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh (mục 3, 5 và 6 phần quyết định của bản án sơ thẩm); Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

3. Về án phí:

Hoàn trả cho Công ty Cổ phần AG số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 2.000.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2019/0007773 ngày 06/8/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

4. Thi hành án tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. 

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

288
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp hợp đồng dịch vụ số 63/2022/KDTM-PT

Số hiệu:63/2022/KDTM-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Kinh tế
Ngày ban hành:20/01/2022
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về