TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
BẢN ÁN 24/2024/DS-ST NGÀY 07/03/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ
Trong ngày 07 tháng 3 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 108/2023/TLST-DS ngày 10 tháng 5 năm 2023 về việc tranh chấp hợp đồng dịch vụ theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 187/2023/QĐXX-ST ngày 31 tháng 7 năm 2023 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 33/2024/QĐST-DS ngày 27 tháng 02 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Võ Thị Mỹ P Địa chỉ: Số C, đường C, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ. Có mặt.
2. Bị đơn: Bà Huỳnh Thị Mỹ T. Địa chỉ: Ấp D, thị trấn B, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Võ Thị Mỹ P1. Địa chỉ: Ấp T, xã G, huyện P, thành phố Cần Thơ. Có mặt. Ông Hồ Văn C, địa chỉ: Số C, đường C, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt.
Bà Hồ Thị Mỹ L, địa chỉ: Số C, đường C, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt.
Bà Hồ Thị Mỹ H, địa chỉ: Số C, đường C, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn là bà Võ Thị Mỹ P trình bày như sau: Vào năm 2018, bà được người quen giới thiệu nên mới quen biết bà Huỳnh Thị Mỹ T. Bà T tự xưng là luật sư, văn phòng ở Thành phố Hồ Chí Minh, tự xưng là cháu của cựu Thủ tướng Nguyễn Tấn D, kêu ông D là cậu ba. Lúc đó, gia đình bà đang tranh chấp phần đất khoảng 30 công ở huyện T, thành phố Cần Thơ, do gia đình bà cho bà Phạm Thị T1 (đã chết) mượn vào năm 1977, nhưng hàng năm vẫn về cúng, viếng mồ mả ông bà trên đất. Vào năm 2015, bà phát hiện nhà nước đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Hữu T2 và Nguyễn Hữu D1 là con bà T1. Khi biết bà T, bà đã nhờ bà T lấy lại đất và làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình bà.
Đầu tiên, bà T thỏa thuận với bà là sẽ làm để những người đang ở nhờ trên đất sẽ di dời trả đất, gia đình bà sẽ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với mức phí 100.000.000đồng (một trăm triệu đồng). Bà ứng cho bà T 50.000.000đồng (năm mươi triệu đồng) khi nào có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sẽ trả thêm 50.000.000đồng (năm mươi triệu đồng). Tuy nhiên, sau khi nhận 50.000.000đồng (năm mươi triệu đồng), bà T không làm gì cả, bà có xuống tận nhà bà T để hỏi thì bà T nói giờ phải 600.000.000đồng (sáu trăm triệu đồng) mới làm được.
Do thấy tiền quá lớn nên bà mới yêu cầu bà T trả lại 50.000.000đồng (năm mươi triệu đồng) và gia đình bà không làm nữa. Nhưng bà T không trả, cũng không làm gì. Sau đó, chị em bà có gặp bà T nói không có khả năng làm, thì bà T nói giờ chia theo quý để thanh toán cho bà T cũng được nên chị em bà đồng ý nhờ bà T làm tiếp tục để lấy lại được quyền sử dụng đất với giá 600.000.000đồng (sáu trăm triệu đồng), lấy trước 300.000.000đồng (ba trăm triệu đồng), khi có giấy đỏ sẽ lấy thêm 300.000.000đồng (ba trăm triệu đồng). Quý I, ngày 29/01/2019 bà đưa thêm cho bà T 50.000.000đồng (năm mươi triệu đồng), ngày 22/02/2019 đưa 30.000.000đồng (ba mươi triệu đồng), ngày 25/3/2019 đưa 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng). Đến quý II, ngày 16/4/2019 đưa 30.000.000đồng (ba mươi triệu đồng), ngày 15/5/2019 đưa 20.000.000đồng (hai mươi triệu đồng). Đến quý III, ngày 4/6 và 6/7/2019 đưa 50.000.000đồng (năm mươi triệu đồng). Quý IV, đưa 50.000.000đồng (năm mươi triệu đồng) ngày ký nhận là ngày 22/9/2019.
Trong quá trình hai bên thực hiện giao dịch bà T dẫn bà và Võ Thị Mỹ P1 là em của bà đến phòng tiếp dân của Hội đồng nhân dân thành phố Cần Thơ để trình bày sự việc, tại đây cán bộ tiếp dân ghi tên bà và bà P1 vào số tiếp dân, cán bộ tiếp dân không có hướng dẫn gì chỉ ghi lời trình bày của bà.
Cùng ngày đó (không nhớ rõ ngày nào mà trong năm 2019), bà T dẫn bà và bà P1 đến Văn phòng đại biểu Quốc Hội tại Cần Thơ để nộp bộ hồ sơ thưa bên ông T2, ông D1, tại đây có lập biên bản tiếp dân và cho bà, bà P1 có ký tên.
Vào một ngày khác sau đó, cũng năm 2019, bà T dẫn bà và bà P1 đến phòng tiếp dân Ủy ban nhân dân thành phố C, tại đây cũng có người tiếp bà, có lập biên bản tiếp dân.
Lần sau nữa thì bà T dẫn bà và bà P1 đến chỗ chín đầu rồng không biết là gì mà có lô cốt, thì bên trong có người mời bà vào ngồi chờ, nhưng bà T không vô mà ở ngoài la ó, nói năng lung tung nên Công an 113 đến bắt bà T đi, chờ về Công an Ninh Kiều ở lộ 20. Đến 3 giờ chiều mới thả ra. Trong khi đó thì có mấy chú công an đến gặp bà và hướng dẫn bà cùng những người đi cùng sang phòng tiếp công dân của Ủy ban nhân dân thành phố C, tại đây bà cũng trình bày và sau đó đi về.
Cùng năm 2019, bà T dẫn bà và bà P1 ra Công an thành phố Cần Thơ ở đường T, ở đây cán bộ cũng mời bà vào tiếp dân nhưng không tiếp nhận hồ sơ.
Cùng năm 2019, bà T dẫn bà và bà P1 đến Tòa án thành phố Cần Thơ, tại phòng tiếp dân bà T yêu cầu tòa án thành phố chuyển hồ sơ về tòa huyện T để giải quyết. Vì trước đó bà đã kiện ông T2 tại tòa án nhân dân huyện Thới Lai, sau đó Tòa án nhân dân huyện Thới Lai chuyển hồ sơ về Tòa thành phố Cần Thơ nên bà T mới dẫn bà đi đến Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ yêu cầu chuyển hồ sơ về Tòa án nhân dân huyện Thới Lai.
Sau đó, bà T dắt bà và bà P1 đi đến Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C để yêu cầu giải quyết vụ đất đai này. Vì Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T2.
Tiếp đến, bà T dẫn bà đi đến Tòa án nhân dân huyện Thới Lai để liên hệ hồ sơ vụ án. Xong ra Công an huyện T để hỏi sao những người ở trên đất của người khác mà được cấp hộ khẩu, Công an cũng lập biên bản. Xong bà T dẫn bà và bà P1 đến Ủy ban nhân dân huyện T để yêu cầu giải quyết vụ đất, cán bộ cũng tiếp và ghi nhận ý kiến rồi kêu về.
Trong cuộc tiếp xúc cử tri của Đại biểu Quốc H1 tại T, bà T3 dắt bà đến đây để nêu ý kiến nhưng đoàn đại biểu mời bà và bà T đến Ủy ban nhân dân xã gần đó tiếp riêng và cho về. Sau đó lại dẫn đến Phòng Tài nguyên môi trường huyện T hỏi vì sao cấp giấy cho ông T2.
Cuối cùng vào ngày 15/6/2020, bà T dẫn bà đến Đảng ủy huyện T để dự đối thoại, tại đó cán bộ cũng lập biên bản.
Từ 15/6/2020 đến nay bà T không làm gì thêm, bà T kêu bà đưa thêm tiền để đưa lên truyền hình nhưng bà không đồng ý. Trong thời gian này bà liên tục gọi điện nhắc nhở nhưng bà T không làm gì thêm. Sau đó bà T không nghe điện thoại của bà.
Bà T có làm cam kết viết tay hứa là làm trong vòng 18 tháng phải xong hồ sơ đất đai nếu không xong phải bồi thường gấp đôi tiền đã nhận.
Bà yêu cầu bà T trả cho bà số tiền đã nhận là 300.000.000đồng (ba trăm triệu đồng) và lãi là 120.000.000đồng (một trăm hai mươi triệu đồng) của 40 tháng từ 23/12/2019 đến 23/4/2023.
Trong quá trình tố tụng, bị đơn là bà Huỳnh Thị Mỹ T sau khi nhận thông báo thụ lý vụ án và giấy triệu tập lần đầu, bà đến Tòa án xin sao chụp hồ sơ. Sau đó, bà T không đến Tòa án theo giấy triệu tập, không nhận văn bản tố tụng, giấy triệu tập, thông báo của Tòa án, từ chối trình bày ý kiến về những vấn đề liên quan đến vụ án vì cho rằng Tòa án thụ lý vụ án sai do đơn khởi kiện của nguyên đơn không ghi ngày tháng năm làm đơn. Vì vậy, Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bà T.
Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết đơn tố cáo của bà Võ Thị Mỹ P, Công an huyện C có lấy lời khai của bà T. Theo đó, bà T trình bày như sau:
Bà và bà Võ Thị Mỹ P quen biết nhau, cuối năm 2018 bà P nhờ bà làm người đại diện đi khởi kiện đòi lại đất cho gia đình bà P, sau khi hoàn thành bà sẽ nhận được 100.000.000đồng (một trăm triệu đồng). Trong năm 2018, bà đã nhận của bà P 50.000.000đồng (năm mươi triệu đồng) và tiến hành các hoạt động khởi kiện. Trong quá trình thực hiện, bà phát hiện phần đất có diện tích không đúng như thỏa thuận ban đầu. Do đó, ngày 04/01/2019 bà P và 07 người trong gia đình bà P ký ủy quyền cho bà đại diện để giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất. Ngày 21/01/2019 bà và bà P đến Văn phòng T5 thống nhất nội dung thỏa thuận bằng bản cam kết. Sau khi nhận ủy quyền, bà đã thực hiện hoạt động khởi kiện, đối thoại, giải quyết với cơ quan chính quyền có liên quan, có thể hiện bằng văn bản cụ thể.
Đến năm 2021, vì dịch bệnh C1 - 19 nên bà phải tạm hoãn các công việc tiếp theo. Đến năm 2022, bà và bà P có gặp gỡ trao đổi về nội dung cam kết, bà có yêu cầu bà P đưa thêm tiền như thỏa thuận trong tờ cam kết để bà làm chi phí thực hiện tiếp các hoạt động đòi lại quyền sử dụng đất. Do không có tiền nên bà không thể làm thêm các hoạt động khác liên quan đến việc kiện tụng. Đến ngày 16/11/2022, gia đình bà P trực tiếp vào nhà bà để thỏa thuận tiếp về việc đòi lại đất. Tại đây, gia đình bà P thống nhất đưa thêm cho bà 700.000.000đồng (bảy trăm triệu đồng) để tiếp tục hoạt động giành lại quyền sử dụng đất, sau khi hoàn thành thì đưa thêm 1.000.000.000đồng (một tỷ đồng) để làm tiền quyền lợi cho bà. Đến nay bà đã nhận từ bà P 300.000.000đồng (ba trăm triệu đồng). Sau ngày 21/01/2019 bà đã gửi đơn tố cáo đến Ủy ban nhân dân thành phố C, được trả lời bằng Công văn 2688/VPUBBTCD ngày 18/7/2019. Sau đó bà tiếp tục gửi đơn tố cáo để ngày 09/8/2019 đến 24 cơ quan từ Trung ương đến xã T, huyện T với yêu cầu đòi lại quyền sử dụng đất cho gia đình bà P. Nếu bà P chấp nhận thực hiện theo tờ cam kết ngày 16/11/2022 thì bà vẫn đồng ý làm cho đến khi hoàn thành.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là Võ Thị Mỹ P1 trình bày như sau: Bà là em ruột của bà Võ Thị Mỹ P1, đối với sự việc bà P khởi kiện bà Huỳnh Thị Mỹ T đòi lại 300.000.000đồng (ba trăm triệu đồng) bà biết như sau: Bà T nhận sẽ đòi lại đất hương quả của ông bà của bà và bà P và làm bằng khoán cho gia đình bà. Bà P là người trực tiếp thỏa thuận với bà T, bà chỉ đi theo. Giá làm dịch vụ là 100.000.000đồng (một trăm triệu đồng), nhận lần đầu là 50.000.000đồng (năm mươi triệu đồng) khi nào làm xong thì nhận thêm 50.000.000đồng (năm mươi triệu đồng). Nhưng sau khi nhận tiền bà T không làm gì hết, bà và bà P nhiều lần xuống nhà bà T để hối thúc nhưng bà T nói phải 600.000.000đồng (sáu trăm triệu đồng) mới làm được. Bà P không đồng ý mà yêu cầu đòi lại tiền 50.000.000đồng (năm mươi triệu đồng), lúc này bà T nói bà là cháu ông Nguyễn Tấn D, bà làm cho tập đoàn L1 rồi nói rất nhiều lý do để thuyết phục bà P đồng ý giá 600.000.000đồng (sáu trăm triệu đồng). Sau đó, bà P và bà T thống nhất giá 600.000.000đồng (sáu trăm triệu đồng) còn việc giao nhận tiền như thế nào thì bà P biết rõ và tự thực hiện với bà T, việc này bà không rõ. Tiền này do bà P giao nhận với bà T nên để bà P toàn quyền quyết định đối với vụ việc này.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Hồ Văn C trình bày như sau: Ông là chồng của bà Võ Thị Mỹ P2, bà P2 đã chết. Đối với việc khởi kiện bà Huỳnh Thị Mỹ T đòi lại số tiền 300.000.000đồng (ba trăm triệu đồng) ông giao toàn quyền quyết định lại cho bà Võ Thị Mỹ P.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là Hồ Thị Mỹ L trình bày như sau: Bà là con của bà Võ Thị Mỹ P2 và ông Hồ Văn C, bà P2 đã chết. Đối với việc khởi kiện bà Huỳnh Thị Mỹ T đòi lại số tiền 300.000.000đồng (ba trăm triệu đồng) bà giao toàn quyền quyết định lại cho bà Võ Thị Mỹ P.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là Hồ Thị Mỹ H trình bày như sau: Bà là con của bà Võ Thị Mỹ P2 và ông Hồ Văn C, bà P2 đã chết. Đối với việc khởi kiện bà Huỳnh Thị Mỹ T đòi lại số tiền 300.000.000đồng (ba trăm triệu đồng) bà giao toàn quyền quyết định lại cho bà Võ Thị Mỹ P.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lại số tiền đã nhận là 300.000.000 đồng, xin rút lại yêu cầu đòi tiền lãi. Bị đơn đã được tống đạt giấy triệu tập, quyết định tạm ngừng, thông báo mời lại phiên tòa nhưng từ chối nhận, tại phiên tòa bị đơn vắng mặt, không gửi ý kiến phản bác đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A phát biểu ý kiến: Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định pháp luật, đảm bảo đúng về thời hạn cũng như trình tự thủ tục. Nguyên đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn là bà Huỳnh Thị Mỹ T trong quá trình tố tụng từ chối nhận giấy triệu tập, văn bản tố tụng của Tòa án và vắng mặt tại phiên tòa, không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của bị đơn theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 26, khoản 1 Điều 35, Điều 147, Điều 244, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Áp dụng các Điều 513, 514, 516 của Bộ luật dân sự 2015; Điều 26, 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Võ Thị Mỹ P đối với bị đơn là bà Huỳnh Thị Mỹ T về việc đòi lại số tiền 300.000.000đồng.
Buộc bà Huỳnh Thị Mỹ T trả lại cho bà Võ Thị Mỹ P số tiền 300.000.000đồng. Đề nghị đình chỉ yêu cầu đòi tiền lãi của bà Võ Thị Mỹ P đối với bà Huỳnh Thị Mỹ T do tại phiên tòa bà P rút lại yêu cầu đòi tiền lãi.
Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn là bà Võ Thị Mỹ P cho rằng bà Huỳnh Thị Mỹ T nhận việc đi đòi lại đất cho gia đình bà, đã nhận tiền nhưng không thực hiện công việc đã nhận, bà đòi lại tiền thì bà T không trả từ đó phát sinh tranh chấp. Xét đây là vụ án tranh chấp hợp đồng dịch vụ, bị đơn là Huỳnh Thị Mỹ T có nơi cư trú tại ấp D, thị trấn B, huyện C, tỉnh Hậu Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Tại phiên tòa nguyên đơn là Võ Thị Mỹ P và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Võ Thị Mỹ P1 có mặt thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Bị đơn Huỳnh Thị Mỹ T vắng mặt vì cho rằng vụ án thụ lý không đúng nên bà từ chối tham gia tố tụng, bà T đã khiếu nại việc thụ lý vụ án này của Thẩm phán và đã được Chánh án Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A và Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang giải quyết khiếu nại, không chấp nhận yêu cầu khiếu nại của bà T. Tuy nhiên, cho đến nay bà T vẫn từ chối nhận giấy triệu tập, văn bản tố tụng của Tòa án và vắng mặt tại phiên tòa. Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Hồ Văn C, Hồ Thị Mỹ L, Hồ Thị Mỹ H vắng mặt có yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt.
Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 xét xử vắng mặt bà Huỳnh Thị Mỹ T và ông Hồ Văn C, Hồ Thị Mỹ L, Hồ Thị Mỹ H.
Đối với ông Võ Văn S, Võ Văn M, Võ Thị T4 có ký giấy ủy quyền cho bà Huỳnh Thị Mỹ T vào ngày 04 tháng 01 năm 2019 để giải quyết tranh chấp đất đai cho dòng họ V, tuy nhiên nội dung ủy quyền không thỏa thuận thù lao và sau đó những người này không tham gia ký “TỜ CAM KẾT” ngày 21 tháng 01 năm 2019 với bà T, không tham gia trong việc giao nhận tiền cho bà T nên Tòa án không đưa những người này vào tham gia tố tụng.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Võ Thị Mỹ P: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn Huỳnh Thị Mỹ T giao trả số tiền đã nhận là 300.000.000đồng.
Bà Võ Thị Mỹ P cho rằng bà T đã nhận sẽ đi đòi lại quyền sử dụng hơn 30 công đất cho gia đình bà với giá tiền 600.000.000đồng. Sau nhiều lần thương lượng bà P đồng ý với giá tiền này và trả cho bà T tiền nhiều lần. Đến nay đã giao cho bà T 300.000.000đồng tổng cộng. Về phía bà T cho rằng ban đầu hai bên thỏa thuận tiền thù lao là 100.000.000đồng, đưa trước 50.000.000đồng khi nào hoàn thành thì đưa thêm 50.000.000đồng cho đủ 100.000.000đồng, nhưng quá trình thực hiện hợp đồng bà T phát hiện diện tích đất không đúng như bà P nói ban đầu nên bà và bà P thống nhất lại giá tiền thù lao là 700.000.000đồng, xong việc đưa thêm 1.000.000.000đồng. Bà T thừa nhận đã nhận của bà P 300.000.000 đồng và bà đã thực hiện các công việc là gửi đơn tố cáo đến Ủy ban nhân dân thành phố C, được trả lời bằng Công văn 2688/VPUB-BTCD ngày 18/7/2019. Sau đó bà tiếp tục gửi đơn tố cáo để ngày 09/8/2019 đến 24 cơ quan từ Trung ương đến xã T, huyện T với yêu cầu đòi lại quyền sử dụng đất cho gia đình bà P. Đến nay đã hết 300.000.000đồng bà yêu cầu bà P đưa thêm tiền nhưng bà P không đưa nên bà không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng. Bà T xác định nếu bà P tiếp tục đưa thêm tiền như đã thỏa thuận thì bà vẫn tiếp tục làm cho đến khi hoàn thành công việc.
[3.1] Xét giao dịch giữa bà Võ Thị Mỹ P và bà Huỳnh Thị Mỹ T:
[3.1.1] Xét hình thức hợp đồng dịch vụ: Bà Võ Thị Mỹ P giao nộp bản gốc “TỜ CAM KẾT” ngày 21 tháng 01 năm 2019 giữa bà P, bà P2, bà P1 và bà T. Theo đó bà T “có trách nhiệm giao tiếp về tranh chấp, chi phí xe cộ cô tự lo. Giải quyết thời gian kiện lấy đất và phần ranh đất là 24 tháng khi nhà nước giao đất lại cho dòng họ Võ chúng tôi. Tổng số tiền là 300.000.000đồng (ba trăm triệu đồng) là chi phí cô T đi đứng.” “Cô T vẫn tiếp tục lo giải phóng mặt bằng và giấy chứng nhận quyền quyền sử dụng đất cho chúng tôi. Số tiền bồi dưỡng thù lao là 300.000.000đồng (ba trăm triệu đồng) giao cho cô T một lần.” Tờ cam kết được hai bên ký kết và có sự chứng kiến của Văn phòng T5, có chữ ký và lăn tay của bà Võ Thị Mỹ P, Võ Thị Mỹ P1, Võ Thị Mỹ P2 và bà Huỳnh Thị Mỹ T.
Bà T thừa nhận có ký thỏa thuận với bà P về việc nhận tiền và thực hiện việc đòi lại quyền sử dụng đất cho nguyên đơn. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định giữa bà T, bà P, P1, P2 có giao kết hợp đồng dịch vụ được Bộ luật dân sự 2015 điều chỉnh từ Điều 513 đến Điều 621 của Bộ luật dân sự.
[3.1.2] Xét về nội dung của hợp đồng dịch vụ: Theo quy định tại Điều 514 của Bộ luật dân sự 2015 quy định đối tượng của hợp đồng dịch vụ như sau: “Đối tượng của hợp đồng dịch vụ là công việc có thể thực hiện được, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội”. Hội đồng xét xử thấy rằng, việc thỏa thuận giữa nguyên đơn là bà P, P1, P2 giao cho bà T thực hiện việc đòi lại quyền sử dụng đất cho dòng họ Võ, thời hạn hoàn thành công việc là 24 tháng là công việc không thể thực hiện được. Bởi vì theo quy định của pháp luật thì việc giải quyết tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, chứ không thuộc cá nhân nào có thể làm được, mà cá nhân chỉ đi làm thủ tục giấy tờ và nộp vào cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, còn cơ quan nhà nước căn cứ hồ sơ giấy tờ, tài liệu chứng cứ mới đưa ra quyết định. Việc bà P, bà P1, bà P2 giao cho bà T làm một việc mà bản thân bà T không thể quyết định được kết quả cuối cùng. Tức là đối tượng của hợp đồng dịch vụ trong trường hợp này là công việc không thể bị đơn là bà T có quyền thực hiện được, nên hợp đồng này bị vô hiệu ngay từ thời điểm ký kết, do vi phạm điều cấm của pháp luật theo quy định tại Điều 123 Bộ luật dân sự.
[3.2] Giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Do hợp đồng vô hiệu nên căn cứ Điều 131 Bộ luật dân sự, không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm ký kết nên các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Bà T thừa nhận đã nhận của bà P số tiền 300.000.000đồng (ba trăm triệu đồng) nên bà T có trách nhiệm trả lại cho bà P số tiền 300.000.000đồng (ba trăm triệu đồng). Bản thân bà T mặc dù có thực hiện một số công việc, có đi lại và có thể có phát sinh chi phí nhưng bà T không đến Tòa án để trình bày, không chứng minh được số tiền bà bị thiệt hại, không có yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Đối với yêu cầu tính lãi của nguyên đơn: Trong quá trình tố tụng, bà P có yêu cầu bà T trả tiền lãi phát sinh từ 300.000.000đồng (ba trăm triệu đồng) đã giao cho bà T, tuy nhiên, tại phiên tòa bà P rút lại yêu cầu tính lãi, chỉ yêu cầu trả lại 300.000.000đồng (ba trăm triệu đồng). Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 đình chỉ yêu cầu tính lãi của bà P.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Điều 26, 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án thì bị đơn là Huỳnh Thị Mỹ T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Cụ thể, bà T phải chịu: 5% x 300.000.000đồng (ba trăm triệu đồng) = 15.000.000đồng (mười lăm triệu đồng).
[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A là phù hợp nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, Điều 147, Điều 244, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Áp dụng các Điều 123, 131, 513, 514 của Bộ luật dân sự 2015; Điều 26, 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Võ Thị Mỹ P đối với bị đơn Huỳnh Thị Mỹ T.
Tuyên bố hợp đồng dịch vụ thể hiện tại “TỜ CAM KẾT” lập ngày 21 tháng 01 năm 2019 giữa bà Võ Thị Mỹ P, Võ Thị Mỹ P1, Võ Thị Mỹ P2 với bà Huỳnh Thị Mỹ T vô hiệu.
Buộc bà Huỳnh Thị Mỹ T trả lại cho bà Võ Thị Mỹ P số tiền 300.000.000đồng (ba trăm triệu đồng).
Kể từ ngày bà Võ Thị Mỹ P có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Huỳnh Thị Mỹ T chậm trả số tiền 300.000.000đồng (ba trăm triệu đồng) nêu trên thì bà Huỳnh Thị Mỹ T còn phải trả cho bà Võ Thị Mỹ P số tiền lãi tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán, lãi suất được áp dụng theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Đình chỉ giải quyết yêu cầu tính lãi của bà Võ Thị Mỹ P đối với bà Huỳnh Thị Mỹ T.
2. Về án phí: Bà Huỳnh Thị Mỹ T phải chịu 15.000.000đồng (mười lăm triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
3. Nguyên đơn Võ Thị Mỹ P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn bà Huỳnh Thị Mỹ T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Võ Thị Mỹ P1 có quyền kháng cáo phần nội dung bản án liên quan đến quyền, nghĩa vụ của bà trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Hồ Văn C, Hồ Thị Mỹ L, Hồ Thị Mỹ H có quyền kháng cáo phần nội dung bản án liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
4. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự
Bản án về tranh chấp hợp đồng dịch vụ số 24/2024/DS-ST
| Số hiệu: | 24/2024/DS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Châu Thành A - Hậu Giang |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Ngày ban hành: | 07/03/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về