Bản án về tranh chấp hợp đồng dịch vụ số 103/2023/DS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 103/2023/DS-ST NGÀY 21/07/2023 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ

Ngày 21/7/2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 04/2022/TLST-DS ngày 18 tháng 01 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 94/2023/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 6 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 50/2023/QĐST-DS ngày 23/6/2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Ngọc N, sinh năm 1969; địa chỉ: A N, Khu D, Thị trấn G, huyện X, tỉnh Đồng Nai. (có đơn xin vắng mặt)

Bị đơn: Công ty TNHH T; địa chỉ: P10 tầng lửng, cao ốc Đại Thanh B, số I N, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh; Người đại diện theo ủy quyền là bà Lê Thị Thục Đ, sinh năm 1976; địa chỉ: 6 L, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 17/7/2020, bản tự khai, các biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, biên bản về việc không tiến hành hòa giải được, nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc N trình bày:

Vào ngày 15/11/2016 ông N và Công ty TNHH T (sau đây gọi tắt là Công ty T) có ký Hợp đồng dịch vụ tư vấn số 1102/2016/HĐTV (chương trình EB3- Hoa Kỳ). Nội dung chính của hợp đồng thể hiện Công ty T cung cấp dịch vụ tư vấn và hỗ trợ cho ông N các công việc gồm: Cung cấp và cập nhật các văn bản pháp lý liên quan đến việc xin định cư theo diện EB3 tại Hoa Kỳ, cung cấp ý kiến chính thức về tính hợp pháp và hoàn chỉnh bộ hồ sơ xin thị thực diện EB3, đại diện cho ông N làm việc và liên hệ với Lãnh sự quán Hoa Kỳ, Trung tâm tiếp nhận hồ sơ xin thị thực Hoa Kỳ và các cơ quan chức năng khác của Chính phủ Việt Nam, đại diện cho ông N để làm việc, liên hệ và đàm phán với các đối tác là Người sử dụng lao động tại Hoa Kỳ, đảm bảo Hợp đồng lao động theo chương trình “Meat Procesing” được ký giữa ông N và N1 sử dụng lao động tại Hoa Kỳ. Thời hạn của Hợp đồng là 18 đến 24 tháng, tổng giá trị của hợp đồng là 1.409.940.000 đồng. Sau khi ký hợp đồng ông Nguyễn đ thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của ông N đối với Công ty T được thể hiện tại Điều 5 của Hợp đồng, đồng thời ông N cũng đã thanh toán đầy đủ cho Công ty T tổng số tiền là 1.409.940.000 đồng. Tuy nhiên đã nhiều năm trôi qua và đã quá thời hạn thực hiện hợp đồng nhưng phía Công ty T đã không thực hiện nghĩa vụ của mình theo như nội dung đã thỏa thuận trong hợp đồng. Nhận thấy những dấu hiệu vi phạm bất thường của Công ty T nên ông N đã tìm hiểu về chức năng hoạt động của Công ty thì được biết Công ty T không có chức năng hoạt động như đã thỏa thuận về việc cung cấp dịch vụ cho ông N tại Điều 1 của Hợp đồng dịch vụ tư vấn số 1102/2016/HĐTV ngày 15/11/2016. Hành vi có lỗi xuất phát từ phía Công ty T đã xâm hại nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông N. Mặc dù đã nhiều lần liên hệ với Công ty T để thương lượng và giải quyết nhưng người đại diện theo pháp luật của Công ty T và nhân viên đều né tránh. Vì vậy ông N yêu cầu Tòa án như sau:

- Hủy bỏ Hợp đồng dịch vụ tư vấn số 1102/2016/HĐTV ngày 15/11/2016 được ký kết giữa ông N và TNHH Tư vấn du học T.

- Buộc Công ty TNHH T phải trả cho ông N số tiền đã nhận là: 1.275.660.000 đồng sau khi đã trừ đi chi phí mà Công ty T đã nộp cho lãnh sự quán, chính phủ Hoa Kỳ và các Luật sư đối tác của Công ty T số tiền là 134.280.000 đồng theo thỏa thuận tại khoản 4.1.5 Điều 4 của Hợp đồng.

- Buộc công ty TNHH T VNCANADA tiền lãi chậm trả theo quy định của pháp luật tính từ ngày 17/10/2019 cho đến ngày Công ty T trả hết số nợ.

Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, Toà án đã có thông báo thụ lý vụ án số: 04/2022/TLST-DS ngày 18 tháng 01 năm 2022 và đã tống đạt thông báo thụ lý và Giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải kể cả Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa để Công ty T có bà Lê Thị Thục Đ đại diện là bị đơn trong vụ án đến Toà án để làm việc, tham gia tố tụng, nhưng bà Lê Thị Thục Đ không đến Toà án đề trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tại phiên toà hôm nay, Công ty T có bà Lê Thị Thục Đ đại diện vẫn vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên không có lời khai của Công ty T. Xét thấy Toà án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đối với bị đơn nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, là thuộc trường hợp cố tình vắng mặt, gây trở ngại cho việc giải quyết vụ án. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Tại phiên toà Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án: Việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng, quan hệ pháp luật tranh chấp, tuy nhiên có vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.

- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự: Các đương sự chấp hành đúng quy định của bộ luật tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định giữa ông Nguyễn Ngọc N và Công ty TNHH T có ký Hợp đồng dịch vụ tư vấn số 1102/2016/HĐTV ngày 15/11/2016. Ông N đã thanh toán cho công ty số tiền 1.409.940.000 đồng. Nay việc xin định cư tại Hoa Kỳ của ông N không thực hiện được nên ông N yêu cầu Công ty trả lại tiền đã nhận sau khi trừ đi các chi phí thỏa thuận trong hợp đồng là có căn cứ. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, án phí do bị đơn chịu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn - ông Nguyễn Ngọc N khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán nợ theo hợp đồng dịch vụ đã ký kết. Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án tranh chấp hợp đồng dịch vụ giữa các đương sự. Theo Phiếu cung cấp thông tin đăng ký doanh nghiệp của doanh nghiệp ngày 12/9/2020 của Sở kế hoạch và Đầu tư Thành phố H thể hiện Công ty TNHH T có trụ sở chính tại P10 tầng lửng, cao ốc Đại Thanh B, số I N, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh, đến nay doanh nghiệp chưa thông báo chấm dứt hoạt động. Do bị đơn có trụ sở tại Quận E nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 5 theo quy định tại Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, Công ty T có bà Lê Thị Thục Đ là người đại diện theo ủy quyền (là bị đơn trong vụ án, không có yêu cầu phản tố) đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

[2]. Về yêu cầu của đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy:

Căn cứ Hợp đồng dịch vụ tư vấn số 1102/2016/HĐTV ngày 15/11/2016 và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định giữa ông N và Công ty T có ký hợp đồng dịch vụ tư vấn với nội dung Công ty T cung cấp dịch vụ tư vấn và hỗ trợ cho ông N các công việc liên quan đến thủ tục xin định cư tại Hoa Kỳ theo diện EB3, thời gian thực hiện hợp đồng là 18 đến 24 tháng, tổng giá trị hợp đồng là 1.409.940.000 đồng.

Xét thấy Hợp đồng dịch vụ tư vấn số 1102/2016/HĐTV ngày 15/11/2016 được ký kết giữa ông Nguyễn Ngọc N và TNHH Tư vấn du học T được giao kết bằng văn bản, dựa trên sự tự nguyện của các bên nên đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Mục đích và nội dung của giao kết không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên xác định hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết, là căn cứ để xác lập các quyền và nghĩa vụ của các bên.

Tại Điều 425 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về Hủy bỏ hợp đồng do không có khả năng thực hiện như sau: “Trường hợp bên có nghĩa vụ không thể thực hiện được một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình làm cho mục đích của bên có quyền không thể đạt được thì bên có quyền có thể hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại.” Theo Thông báo ngày 17/4/2019 của Tổng Lãnh sự quán H gửi cho ông N có nội dung như sau: “Theo quy định của Bộ N2, viên chức lãnh sự đã chuyển hồ sơ bảo lãnh của quý vị về Sở D (USCIS) để yêu cầu hủy bỏ theo những điều khoản sau: Đây là hồ sơ cho thị thực việc làm và đương đơn không hội đủ tiêu chuẩn cho loại thị thực này.” Do thủ tục xin định cư tại Hoa Kỳ theo diện EB3 của ông Nguyễn Ngọc N không thực hiện được nên ông N yêu cầu hủy bỏ Hợp đồng dịch vụ tư vấn số 1102/2016/HĐTV ngày 15/11/2016 là phù hợp với Điều 425 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên có cơ sở chấp nhận.

Tại Khoản 2 Điều 427 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về hậu quả của việc hủy bỏ hợp đồng như sau: “2. Các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận sau khi trừ đi chi phí hợp lý trong việc thực hiện hợp đồng và chi phí bảo quản, phát triển tài sản.” Tại Điểm 4.1.5 Khoản 4.1 Điều 4 của Hợp đồng dịch vụ tư vấn số 1102/2016/HĐTV ngày 15/11/2016 quy định như sau: “Trong trường hợp bên B bị Đ2 từ chối cấp Thị thực do các nguyên nhân khác với điểm 4.2.3 Điều này, thì giải quyết như sau: Sau 06 tháng kể từ ngày có kết quả, Bên A có nghĩa vụ hoàn trả lại cho Bên B tiền thanh toán qua các đợt. Tuy nhiên, Bên B phải chịu các loại chi phí mà Bên A đã nộp cho Lãnh sự quán, Chính phủ Hoa Kỳ và các Luật sư đối tác của Bên A, số tiền là 134.280.000 VNĐ (Bằng chữ: Một trăm ba mươi bốn triệu hai trăm tám mươi ngàn đồng chẵn) (Tỷ giá USD V ngày 15/11/2016 là 22,380 VNĐ). Chi phí trên sẽ được trừ vào tiền thanh toán.” Căn cứ vào các Phiếu thu số 22/03 ngày 10/12/2016, Phiếu thu số 06/03 ngày 15/11/2016, Phiếu thu ngày 14/3/2017 và Phiếu thu số 20/07 ngày 01/10/2017 có cơ sở xác định ông N đã thanh toán cho Công ty T số tiền 1.409.940.000 đồng.

Như đã nhận định ở trên, việc ông N yêu cầu hủy bỏ hợp đồng là có căn cứ, do đó theo quy định tại khoản 2 Điều 427 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Đ1 4.1.5 Khoản 4.1 Điều 4 của Hợp đồng dịch vụ tư vấn số 1102/2016/HĐTV ngày 15/11/2016, việc ông N yêu cầu Công ty T hoàn trả lại cho ông N số tiền 1.275.660.000 đồng, là số tiền ông N đã thanh toán cho Công ty T trừ đi chi phí dịch vụ 134.280.000 đồng là có cơ sở cần chấp nhận.

Đối với yêu cầu trả tiền lãi chậm trả của số tiền nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo quy định tại Điểm 4.1.5 Khoản 4.1 Điều 4 của Hợp đồng dịch vụ tư vấn số 1102/2016/HĐTV ngày 15/11/2016, các bên đã thỏa thuận thời hạn hoàn trả tiền do không thực hiện được dịch vụ là 06 tháng kể từ ngày có kết quả. Ngày 17/4/2019 Tổng Lãnh sự quán H đã có thông báo cho ông N biết hồ sơ của ông N bị hủy bỏ. Do đó, thời hạn mà Công ty T phải trả tiền cho ông N là 06 tháng kể từ ngày 17/4/2019, tức là ngày 19/10/2019.

Việc Công ty T không hoàn trả số tiền nêu trên cho ông N theo thời gian đã thỏa thuận làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông N, do đó Công ty T phải chịu trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật Dân sự như sau: “1. Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. 2. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất quy định tại 1 Điều 468 của Bộ Luật này; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này.” Do các bên không thỏa thuận về mức lãi suất chậm trả tiền nên cần áp dụng quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự với mức lãi suất 10%/năm.

Việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lãi đối với số tiền 1.275.660.000 đồng với mức lãi suất theo quy định từ ngày 17/10/2019 đến khi bị đơn thanh toán hết số nợ là phù hợp với quy định của pháp luật và thỏa thuận giữa các bên tại Hợp đồng dịch vụ tư vấn. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử tạm tính số tiền lãi bị đơn phải trả kể từ ngày 17/10/2019 cho đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 21/7/2023 như sau: 1.275.660.000 đồng x 10%/năm x 1.373 ngày = 479.857.858 đồng.

Như vậy, tổng số tiền nợ gốc và lãi mà Công ty T phải trả cho ông Nguyễn Ngọc N tạm tính đến ngày 21/7/2023 là 1.755.517.858 đồng.

Từ những phân tích và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc Công ty TNHH T có nghĩa vụ thanh toán cho ông Nguyễn Ngọc N số tiền gốc và lãi tạm tính đến ngày 21/7/2023 là 1.755.517.858 đồng, trong đó nợ gốc là 1.275.660.000 đồng, tiền lãi là 479.857.858 đồng, thanh toán một lần ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

[3]- Về án phí dân sự sơ thẩm: Công ty TNHH T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật: 64.665.536 đồng. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, nên nguyên đơn không phải chịu án phí, được trả lại tiền tạm ứng án phí đã nộp;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, 148; khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ vào các Điều 117, 357, 425, 427, 468, 513 của Bộ luật dân sự 2015;

Căn cứ Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự;

Căn cứ Pháp lệnh về án phí, lệ phí Tòa án; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1 .Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Ngọc N.

1.1 Tuyên Hủy Hợp đồng dịch vụ tư vấn số 1102/2016/HĐTV ngày 15/11/2016 được ký kết giữa ông Nguyễn Ngọc N và Công ty TNHH T.

Buộc Công ty TNHH T có nghĩa vụ thanh toán cho ông N số tiền gốc và lãi tạm tính đến ngày 21/7/2023 là 1.755.517.858đ (một tỷ bảy trăm năm mươi lăm triệu năm trăm mười bảy ngàn tám trăm năm mươi tám đồng), trong đó nợ gốc là 1.275.660.000đ (một tỷ hai trăm bảy mươi lăm triệu sáu trăm sáu mươi sáu ngàn đồng), tiền lãi là 479.857.858d (bốn trăm bảy mươi chín triệu tám trăm năm mươi bảy ngàn tám trăm tám mươi lăm đồng), thanh toán một lần ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

1.2 Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, Công ty TNHH T còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí: Công ty TNHH T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 64.665.536đ (sáu mươi bốn triệu sáu trăm sáu mươi sáu ngàn năm trăm ba mươi sáu đồng).

Hoàn trả lại cho ông Nguyễn Ngọc N số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 31.907.6548 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2018/0032916 ngày 06/01/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Án xử sơ thẩm thẩm công khai, các đương sự có thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày công bố bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

160
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp hợp đồng dịch vụ số 103/2023/DS-ST

Số hiệu:103/2023/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận 5 - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:21/07/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về