TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO THẮNG – TỈNH LÀO CAI
BẢN ÁN 04/2023/KDTM-ST NGÀY 05/05/2023 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ
Ngày 05 tháng 05 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bảo Thắng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 07/2022/TLST-KDTM ngày 19/12/2022 về “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2023/QĐXXST-KDTM ngày 17/02/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2023/QĐST-KDTM ngày 07/04/2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty Cổ phần khoáng sản và vật liệu L (Viết tắt là Công ty L).
Địa chỉ: Lô đất F1- Khu Công Nghiệp T, huyện B, tỉnh L.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Quang Kh, sinh năm: 1979. Chức vụ: Giám đốc Công ty;
Địa chỉ: Đường A6, khu đô thị K, tổ 20, phường P, thành phố L, tỉnh L.
Có mặt.
Bị đơn: Công ty TNHH khoáng sản và luyện kim V (Viết tắt là Công ty V).
Địa chỉ: Khu Công nghiệp T, huyện B, tỉnh L.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Phú D, sinh năm: 1977;
Chức vụ: Tổng giám đốc Công ty.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nông Văn Q, sinh năm: 1984; Chức vụ: Trưởng phòng an toàn Môi trường công ty;
Địa chỉ: Công ty TNHH Khoáng Sản và Luyện kim V (Khu công nghiệp Tằng Loỏng, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai). Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện của công ty Cổ phần khoáng sản và vật liệu L và các bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn trình bày:
Năm 2020 Công ty L và Công ty V đã ký 03 hợp đồng kinh tế, cụ thể: Hợp đồng số: 01.01/2020/VTM-KSLC ký ngày 01 tháng 01 năm 2020 và phụ lục hợp đồng số 01/2020-PL/VTM-KSLC ký ngày 24/04/2020; Hợp đồng số: 01.08/2020/VTM-KSLK ký ngày 15 tháng 07 năm 2020; Hợp đồng số: 07/2020/HĐ/XLCTRCN ký ngày 16 tháng 07 năm 2020; Nội dung chính của 03 Hợp đồng kinh tế, cụ thể:
Nội dung công việc: Thuê dịch vụ máy xúc đào, xúc lật thực hiện công việc tại công ty V; Thực hiện thu hồi kim loại từ tuyển xỉ tại Công ty V; Thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn công nghiệp thông thường (xỉ thải luyện thép);
Đơn giá Hợp đồng 01.01/2020/VTM-KSLC: Từ 4.000 đồng-400.000 đồng/tấn và phụ lục hợp đồng: Từ 3.600 đồng-360.000 đồng; Đơn giá Hợp đồng 01.08/2020/VTM-KSLK: Đơn giá Mê xỉ tuyển: 280.000 đồng/tấn; Đơn giá Mê xỉ cắt 410.000 đồng/tấn; Đơn giá Hợp đồng 07/2020/HĐ/XLCTRCN: 126.000 đồng/tấn; Đơn giá của hợp đồng số 01.01 + phụ lục hợp đồng và Hợp đồng số 01.08 đã bao gồm thuế VAT và mọi chi phí để vận hành máy móc thiết bị...do hai bên thỏa thuận. Đơn giá của hợp đồng số 07 chưa bao gồm thuế VAT.
Thời gian thực hiện Hợp đồng số 01.01/2020/VTM-KSLC: Từ ngày 01/01/2020 đến hết ngày 31/12/2020; Thời gian thực hiện Hợp đồng số 01.08/2020/VTM-KSLK: Từ ngày 15/7/2020 đến hết ngày 14/10/2020; Thời gian thực hiện Hợp đồng số 07/2020/HĐ/XLCTRCN: Từ ngày 16/7/2020 đến hết ngày 16/10/2020; Hình thức thanh toán bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản qua Ngân hàng. Công ty V thanh toán cho Công ty L khi Công ty L hoàn thành các thủ tục thanh toán và cung cấp hóa đơn tài chính cho Công ty V.
Công ty L đã hoàn thành toàn bộ các nghĩa vụ theo thỏa thuận giữa các bên. Tuy nhiên, phía Công ty V không thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo Hợp đồng và phụ lục Hợp đồng kèm theo. Tại các biên bản đối chiếu công nợ từ ngày 31/01/2022 đến ngày 31/08/2022, Công ty V còn nợ Công ty L tổng cộng số tiền là: 8.790.685.656 đồng. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn nhất trí trả cho nguyên đơn số tiền gốc còn nợ, tuy nhiên đến nay vẫn chưa thanh toán.
Về khoản tiền lãi chậm thanh toán: Do hai bên không thỏa thuận được nên Công ty L yêu cầu công ty V phải trả khoản tiền lãi kể từ ngày 28/11/2020 (ngày chốt công nợ và ngày lập hóa đơn) đến ngày 05/5/2023; mức lãi suất 9%/năm, số tiền lãi là 1.921.816.443 đồng tính trên tổng số tiền gốc còn nợ.
Tại bản tự khai cũng như tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày:
Công ty L và Công ty V ký 03 hợp đồng kinh tế, cụ thể: Hợp đồng số: 01.01/2020/VTM-KSLC ký ngày 01 tháng 01 năm 2020 và phụ lục hợp đồng số 01/2020-PL/VTM-KSLC ký ngày 24/04/2020; Hợp đồng số: 01.08/2020/VTM- KSLK ký ngày 15 tháng 07 năm 2020; Hợp đồng số: 07/2020/HĐ/XLCTRCN ký ngày 16 tháng 07 năm 2020, toàn bộ nội dung công việc, đơn giá, thời gian thực hiện hợp đồng, phương thức thanh toán như đại diện của nguyên đơn đã trình bày tại phiên tòa. Hai công ty không tranh chấp gì về việc ký kết hợp đồng và phụ lục của hợp đồng.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Công ty V nhất trí trả cho Công ty L số tiền gốc còn nợ là: 8.790.685.656 đồng nhưng do hiện tại tình hình hoạt động của Công ty V có khó khăn nên công ty chưa có tiền để thanh toán ngay cho công ty L.
Về khoản tiền lãi, do trong hợp đồng đã ký giữa hai bên không ghi lãi suất chậm thanh toán và hai bên không thống nhất được với nhau về phương pháp tính lãi nên Công ty V không nhất trí trả khoản tiền lãi theo tính toán của nguyên đơn, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, các đương sự đã hòa giải được với nhau về việc thanh toán khoản tiền nợ gốc là 8.790.685.656 đồng nhưng không hòa giải được với nhau về việc thanh toán khoản tiền lãi suất chậm trả nên đều đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến phiên tòa hôm nay: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đều thực hiện đúng các quy định của pháp luật: Về thủ tục Tố tụng dân sự, xác định đúng quan hệ pháp luật, đúng tư cách người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ và giải quyết trong thời hạn luật định. Đại diện theo pháp luật của nguyên đơn và đại diện theo ủy quyền của bị đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật khi tham gia tố tụng.
Về nội dung tranh chấp: Nguyên đơn, bị đơn không tranh chấp về nội dung của 03 hợp đồng kinh tế, cụ thể: Hợp đồng số: 01.01/2020/VTM-KSLC ký ngày 01 tháng 01 năm 2020 và phụ lục hợp đồng số 01/2020-PL/VTM-KSLC ký ngày 24/04/2020; Hợp đồng số: 01.08/2020/VTM-KSLK ký ngày 15 tháng 07 năm 2020; Hợp đồng số: 07/2020/HĐ/XLCTRCN ký ngày 16 tháng 07 năm 2020, việc ký kết các hợp đồng là hợp pháp, hai bên đã có biên bản đối chiếu công nợ, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn nhất trí thanh toán số tiền gốc cho nguyên đơn là 8.790.685.656 đồng.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 74, 78, 79, 82, 85, 86, 87 và Điều 306 Luật thương mại; Căn cứ Khoản 1 Điều 30, Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, Khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 513, 518, 519 của Bộ luật dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, công nhận thỏa thuận giữa các đương sự, theo đó Công ty V phải thanh toán cho Công ty L số tiền nợ gốc là 8.790.685.656 đồng.
Về khoản tiền lãi: Nguyên đơn đã cung cấp đầy đủ bản sao các hóa đơn liên quan đến việc yêu cầu thanh toán giữa hai công ty nên việc nguyên đơn yêu cầu tính lãi từ thời điểm xuất hóa đơn là có căn cứ, cần chấp nhận buộc bị đơn phải thanh toán khoản tiền lãi cho nguyên đơn số tiền lãi tạm tính đến ngày xét xử là 1.921.816.443 đồng là phù hợp với quy định của pháp luật. Đề nghị tuyên lãi suất chậm thi hành án, quyền kháng cáo, án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết: Công ty L khởi kiện Công ty V về việc "Tranh chấp hợp đồng dịch vụ" thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai theo quy định tại Điều 30, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thời hiệu khởi kiện vụ án:
Ngày 31/01/2022, Công ty L và Công ty V đối chiếu công nợ theo 03 hợp đồng kinh tế đã ký kết giữa hai bên. Tại thời điểm khởi kiện đảm bảo thời hiệu theo quy định của pháp luật.
[3] Về nội dung tranh chấp:
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn đều thống nhất nội dung liên quan đến việc ký 03 hợp đồng kinh tế, cụ thể: Hợp đồng số:
01.01/2020/VTM-KSLC ký ngày 01 tháng 01 năm 2020 và phụ lục hợp đồng số 01/2020-PL/VTM-KSLC ký ngày 24/04/2020; Hợp đồng số: 01.08/2020/VTM- KSLK ký ngày 15 tháng 07 năm 2020; Hợp đồng số: 07/2020/HĐ/XLCTRCN ký ngày 16 tháng 07 năm 2020. Sau khi ký kết hợp đồng, công ty L đã thực hiện đúng và đầy đủ nội dung công việc theo thỏa thuận trong hợp đồng đã ký kết giữa hai bên. Hai công ty đã cùng đối chiếu, xác nhận những nội dung đã thực hiện, tại các biên bản đối chiếu công nợ từ ngày 31/01/2022 đến ngày 31/08/2022, đại diện Công ty V đã ký xác nhận số tiền còn nợ Công ty L là 8.790.685.656 đồng. Xét thấy 03 Hợp đồng kinh tế được ký kết giữa hai công ty là hợp pháp, tự nguyện, nội dung thỏa thuận không trái quy định của pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Công ty V nhất trí trả cho Công ty L số tiền gốc còn nợ là: 8.790.685.656 đồng. Tuy nhiên do tình hình hoạt động của Công ty V có khó khăn nên chưa có điều kiện để thanh toán khoản nợ gốc, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Hai bên không tranh chấp nội dung liên quan đến khoản tiền nợ gốc nên cần công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc thanh toán khoản tiền nợ gốc là 8.790.685.656 đồng.
Về khoản tiền lãi suất chậm thanh toán:
Công ty V không nhất trí thanh toán khoản tiền lãi suất chậm thanh toán theo yêu cầu của nguyên đơn với lý do hợp đồng đã ký giữa hai bên và phụ lục hợp đồng không thỏa thuận lãi suất, các đương sự cũng không thỏa thuận được với nhau về lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ. Nguyên đơn giao nộp biểu tính lãi suất đến ngày xét xử kèm theo các hóa đơn liên quan, mức lãi suất 9%/năm, số tiền lãi tính đến ngày 05/05/2023 là 1.921.816.443 đồng.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thu thập chứng cứ liên quan đến mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường của 03 ngân hàng thương mại là Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam - Chi nhánh tỉnh Lào Cai (đối với khoản vay sản xuất kinh doanh, mức lãi suất có kỳ hạn trên 6 tháng - 12 tháng là 9,5%/năm; cho vay trung, dài hạn là 12,5%/năm); Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh tỉnh Lào Cai (mức lãi suất cho vay trung, dài hạn là 12,0%/năm) và Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT Việt Nam - Chi nhánh tỉnh Lào Cai (mức lãi suất cho vay phục vụ sản suất kinh doanh: Trên 06 đến 12 tháng tối thiểu 8,5%/năm; trung, dài hạn tối thiểu là 10,0%/năm); Mức lãi suất nợ quá hạn của 03 ngân hàng trên đều là 150% mức lãi suất cho vay trong hạn. Theo hướng dẫn tại Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì mức lãi suất 10%/năm (0,8333%/tháng) và số tiền lãi mà Công ty L yêu cầu không vượt quá mức lãi suất nợ quá hạn do các Ngân hàng nêu trên cung cấp cho Tòa án nên cần chấp nhận là đúng quy định của pháp luật.
Mặc dù trong 03 hợp đồng kinh tế và phụ lục hợp đồng này không có điều khoản thỏa thuận về lãi suất chậm thanh toán. Tuy nhiên quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn cũng xác nhận việc Công ty V đã nhận đầy đủ các hóa đơn liên quan đến việc thanh toán công nợ giữa hai công ty như nguyên đơn cung cấp, thời điểm xuất hóa đơn đầu tiên từ ngày 28/10/2020, số tiền gốc mà hai bên đã đối chiếu và bị đơn xác nhận còn nợ là 8.790.685.656 đồng, đến nay chưa thanh toán. Do đó bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền dịch vụ nên nguyên đơn có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả.
Số tiền lãi chậm thanh toán mà Công ty L yêu cầu là 1.921.816.443 đồng thấp hơn số tiền lãi theo tính toán trên nợ gốc 8.790.685.656 đồng kể từ ngày 28/11/2020 đến ngày xét xử và thấp hơn mức lãi suất nợ quá hạn do các Ngân hàng cung cấp; Tuy nhiên nguyên đơn chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn phải trả khoản tiền lãi như yêu cầu nêu trên. Vì vậy cần cần buộc công ty V phải thanh toán khoản tiền lãi suất chậm trả cho Công ty L số tiền là 1.921.816.443 đồng.
[4] Về án phí: Công ty L không phải chịu tiền án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm và được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp; Công ty V phải chịu tiền án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm đối với khoản tiền nợ gốc là 58.395.000 đồng và 69.654.493 đồng tiền án phí đối với khoản tiền lãi suất chậm thanh toán.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Khoản 1 Điều 30, Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, Khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 513, 518, 519 Bộ luật dân sự;
Điều 74, 78, 79, 82, 85, 86, 87 và Điều 306 Luật thương mại và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
1. Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần khoáng sản và vật liệu L.
Xử công nhận thỏa thuận giữa Công ty cổ phần khoáng sản và vật liệu L và Công ty TNHH khoáng sản và luyện kim V về khoản tiền nợ gốc phải thanh toán theo 03 hợp đồng kinh tế: Hợp đồng số: 01.01/2020/VTM-KSLC ký ngày 01 tháng 01 năm 2020 và phụ lục hợp đồng số 01/2020-PL/VTM-KSLC ký ngày 24/04/2020; Hợp đồng số: 01.08/2020/VTM-KSLK ký ngày 15 tháng 07 năm 2020; Hợp đồng số: 07/2020/HĐ/XLCTRCN ký ngày 16 tháng 07 năm 2020, cụ thể: Công ty TNHH khoáng sản và uyện kim V phải có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty Cổ phần khoáng sản và vật liệu L số tiền gốc còn nợ là 8.790.685.656 đồng (Tám tỷ bẩy trăm chín mươi triệu sáu trăm tám mươi năm nghìn sáu trăm năm sáu đồng).
2. Về lãi suất chậm thanh toán: Xử buộc Công ty TNHH Khoáng sản và luyện kim V phải thanh toán khoản tiền lãi chậm thanh toán tạm tính đến ngày xét xử số tiền là 1.921.816.443 đồng (Một tỷ chín trăm hai mươi mốt triệu tám trăm mười sáu nghìn bốn trăm bốn ba đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
3. Về án phí: Công ty TNHH Khoảng sản và luyện kim V phải chịu số tiền án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm đối với khoản tiền nợ gốc là 58.395.000 đồng (Năm mươi tám triệu ba trăm chín mươi năm nghìn đồng) và 69.654.493 đồng (Sáu mươi chín triệu sáu trăm năm mươi tư nghìn bốn trăm chín ba đồng) tiền án phí đối với khoản tiền lãi suất chậm thanh toán.
Công ty cổ phần khoáng sản và vật liệu L không phải chịu tiền án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm, hoàn trả lại cho Công ty Cổ phần khoáng sản và vật liệu L số tiền 58.395.000 đồng (Năm mươi tám triệu ba trăm chín mươi năm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0003162 ngày 19/12/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt người đại diện theo pháp luật của Công ty Cổ phần khoáng sản và vật liệu L và người đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH Khoáng sản và Luyện kim V; Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự.
Bản án về tranh chấp hợp đồng dịch vụ số 04/2023/KDTM-ST
| Số hiệu: | 04/2023/KDTM-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Bảo Thắng - Lào Cai |
| Lĩnh vực: | Kinh tế |
| Ngày ban hành: | 05/05/2023 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về