TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG
BẢN ÁN 47/2024/DS-ST NGÀY 05/04/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ PHÁP LÝ
Trong ngày 05/4/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tHphố PQ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ Lsố: 16/2022/TLST-DS, ngày 02 tháng 02 năm 2023, về “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ pháp lý”.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2024/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 02 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 37/2024/QĐST-DS ngày 08 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
1.1. Ông Vũ Văn Tr, sinh năm 1961 (Có mặt).
1.2. Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1958 (Có mặt). Cùng địa chỉ: 80 NVC , pH An Thới, tHphố PQ, Kiên Giang.
Người đại diện cho ông Tr, bà M: Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1997 (Có mặt). Địa chỉ liên hệ: Số 254 - Tầng 1, đường NTT, pH DĐ, tHphố PQ, tỉnh Kiên Giang. (Theo giấy ủy quyền ngày 05/4/2024).
2. Bị đơn: Công ty Luật trách nhiệm hữu hạn ĐT. Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Minh H- Giám đốc (Vắng mặt). Trụ sở: 36 Trần Quốc Hoàn, Dịch Vọng Hậu, pH Dịch Vọng Hậu, quận Cầu Giấy, Tp Hà Nội. Địa chỉ hiện nay: Số 09 đường HV , khu phố 5, pH DĐ, tHphố PQ, tỉnh Kiên Giang.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Bùi Chí T, sinh năm 1962 (Có đơn xin vắng mặt). Địa chỉ: Khu phố 8, pH An Thới, tHphố PQ, tỉnh Kiên Giang.
3.2. Ông Trần Văn S (Vắng mặt). Địa chỉ: Khu phố 1, pH An Thới, tHphố PQ, tỉnh Kiên Giang.
3.3. Ông LMinh C, sinh năm 1966 (Có đơn xin vắng mặt). Địa chỉ: Khu phố 3, pH An Thới, tHphố PQ, tỉnh Kiên Giang.
3.4. Ông Phan Thanh T(Có đơn xin vắng mặt). Địa chỉ: 268 NTT, pH DĐ, tHphố PQ, tỉnh Kiên Giang.
3.5. Bà Dương Thị L(Vắng mặt). Địa chỉ: Khu phố 2, pH An Thới, tHphố PQ, tỉnh Kiên Giang.
3.6. Bà Nguyễn Thị Ngọc V1 (Vắng mặt).
3.7. Bà Nguyễn Thị H(Vắng mặt). Địa chỉ: Ấp Suối Lớn, Dương Tơ, tHphố PQ, Kiên Giang.
3.8. Ông Đỗ TH Trung (Vắng mặt).
3.9. Bà Nguyễn Trần Kim P (Vắng mặt). Cùng địa chỉ: Khu phố 1, pH An Thới, tHphố PQ, Kiên Giang
3.10. Ông Nguyễn Hồng H1, sinh năm 1970 (Có đơn xin vắng mặt). Địa chỉ: Khu phố 3, pH An Thới, tHphố PQ, tỉnh Kiên Giang.
3.11. Ông Nguyễn Hùng M(Có đơn xin vắng mặt). Địa chỉ: Ấp Suối Lớn, xã Dương Tơ, tHphố PQ, Kiên Giang
3.12. Ông Trần Văn D(Vắng mặt). Địa chỉ: Khu phố 1, pH An Thới, tHphố PQ, Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn ông Vũ Văn Tr, bà Nguyễn Thị M và người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Chúng tôi và Công ty Luật TNHH ĐT có ký kết 02 hợp đồng dịch vụ pháp Lcụ thể:
- Hợp đồng dịch vụ pháp Lngày 17/4/2018 với nội dung Công ty ĐT cử luật sư tham gia tố tụng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chúng tôi để đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất diện tích 1.458m² tọa lạc tại tổ 1, khu phố 7, thị trấn An Thới, huyện PQ, tỉnh Kiên Giang của vợ chồng chúng tôi bị chính quyền thị trấn An Thới cấp cho các hộ khác.
- Hợp đồng dịch vụ pháp Lngày 17/4/2018 với nội dung Công ty ĐT cử luật sư tham gia tố tụng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chúng tôi là bị đơn trong vụ án kiện đòi lại diện tích đất 581m2 tại tổ 1, khu phố 7, thị trấn An Thới, huyện PQ, tỉnh Kiên Giang.
Theo hai Hợp đồng dịch vụ pháp Lnêu trên thì chúng tôi pHtrả tiền thù lao cho mỗi Hợp đồng là 100.000.000đồng. Sau khi ký kết hợp đồng, tôi đã thanh toán đủ số tiền 200.000.000 đồng cho Công ty ĐT theo kỳ nhận ngày 23/04/2018 với số tiền 30.000.000 đồng, ngày 24/04/2018 với số tiền 70.000.000 đồng, ngày 27/04/2018 với số tiền 100.000.000 đồng. Việc ký kết hợp đồng và giao nhận tiền được thực hiện tại Phòng giao dịch PQ của Công ty Luật ĐT địa chỉ tại ấp Dương Tơ 1, xã Dương Tơ, huyện PQ, tỉnh Kiên Giang.
Vụ việc thứ hai: Thỏa thuận tạm ứng tiền thù lao. Đến ngày 10/5/2018, chúng tôi cùng 12 hộ dân khác có ký Hợp đồng dịch vụ pháp Lvới Công ty ĐT để tham gia vụ việc yêu cầu đòi bồi tH và cấp tái định cư cho phần đất của các hộ dân tọa lạc tại thị trấn An Thới, huyện PQ đã bị UBND huyện PQ thu hồi vào năm 1994. Tổng giá trị của 13 hợp đồng là 2.900.000.000 đồng. Theo thỏa thuận của 13 hợp đồng trên thì thời điểm Công ty ĐT được thanh toán tiền thù lao là sau khi các hộ dân được Cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định bồi tH và cấp tái định cư.
Ngày 20/06/2018, chúng tôi và ông Lê Minh H là người đại diện theo pháp luật của Công ty ĐT đã ký kết Biên bản thỏa thuận với nội dung tôi tạm ứng trước cho 12 hộ dân nêu trên số tiền 650.000.000 đồng (50.000.000đồng/hộ) là thù lao của 13 Hợp đồng dịch vụ pháp Lcho Công ty ĐT. Sau khi hoàn tHcông việc theo thỏa thuận trong Hợp đồng, Công ty ĐT có nghĩa vụ trả lại cho tôi số tiền 1.950.000.000đồng là tiền tạm ứng và chi phí môi giới. Việc ký kết biên bản thỏa thuận và giao nhận tiền được thực hiện tại Văn phòng Luật sư ĐT địa chỉ tại số 80 đường NVC , thị trấn An Thới, huyện PQ, tỉnh Kiên Giang.
Theo thỏa thuận tại 02 hợp đồng dịch vụ pháp Lngày 17/4/2018 và thỏa thuận trong 13 hợp đồng dịch vụ pháp Lngày 10/5/2018 thì phía Công ty ĐT vẫn chưa hoàn tHđược công việc như đã cam kết. Chúng tôi đã nhiều lần liên hệ, trao đối với Công ty ĐT nhưng Công ty ĐT vẫn không thực hiện đúng theo các thỏa thuận, cam kết trong hợp đồng dịch vụ pháp lý. Nhận thấy, Hvi của Công ty ĐT đã vi phạm các thỏa thuận đã được ký kết, đã xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của chúng tôi.
Nay chúng tôi đề nghị hủy 02 hợp đồng dịch vụ pháp Lngày 17/4/2018 giữa ông Vũ Văn Tr với công ty ĐT và buộc Công ty ĐT hoàn trả lại cho chúng tôi số tiền 200.000.000đồng theo 02 hợp đồng dịch vụ pháp Lngày 17/4/2018.
Tuyên hủy biên bản thỏa thuận ngày 20/6/2018 giữa ông Vũ Văn Tr với Công ty ĐT, buộc Công ty ĐT hoàn trả lại cho chúng tôi số tiền 650.000.000 đồng.
Bị đơn Công ty Luật trách nhiệm hữu hạn ĐT vắng mặt nhưng tại bản tự khai ngày 21/6/2022 tại trụ sở Tòa án quận Cầu Giấy, Tp. Hà Nội, ông Lê Minh H- Giám đốc Công ty TNHH ĐT trình bày:
Ngày 17/4/2018, tôi có đại diện cho Công ty Luật ĐT ký hợp đồng dịch vụ với ông Vũ Văn Tr tại An Thới, PQ. Theo Hợp đồng trên bên ông Tr đã tạm ứng 100.000.000 đồng. Hiện nay nội dung công việc của hợp đồng đã hoàn tH(có quyết định của Tòa án PQ).
Cùng vào ngày 17/4/2018 tôi và ông Tr có ký hợp đồng dịch vụ tại xã Dương Tơ, sau khi ký hợp đồng ông Tr có tạm ứng 100.000.000 đồng, nay công việc này đã hoàn tHtừ năm 2019.
Ngày 20/6/2018 tôi và ông Tr có ký thỏa thuận về việc ông Tr cho các hộ dân có tranh chấp ứng trước mỗi người 50.000.000 đồng để làm chi phí, tổng số tiền là 650.000.000 đồng. Số tiền này tôi đã đưa cho ông Trần Văn S 300.000.000 đồng để mua lại phần đất tranh chấp. Nay công việc theo thỏa thuận các bên đã đồng ý chấm dứt.
Tổng số tiền nhận của ông Tr là 850.000.000 đồng. Vì các hợp đồng và biên bản thỏa thuận trên được ký kết và thực hiện tại PQ nên tôi đề nghị Tòa án Quận Cầu Giấy chuyển Tbộ hồ sơ vụ án về Tòa án PQ giải quyết. Công ty TNHH ĐT có địa chỉ đăng ký hoạt động tại 36 Trần Quốc Hoàn quận Cầu Giấy nhưng mọi hoạt động của Công ty hiện nay tại số 9 HV , DĐ, PQ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tHphố PQ phát biểu quan điểm về việc tuân theo tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử là đúng quy định của pháp luật.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ Điều 513, 515, 516, 517, 518, 519 BLDS năm 2015. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Vũ Văn Tr và bà Nguyễn Thị M.
- Tuyên hủy Hợp đồng dịch vụ pháp Lngày 17/4/2018 giữa ông Vũ Văn Tr với Công ty ĐT đối với công việc khiếu nại liên quan đến quyền sử dụng đất diện tích 1.458m² tại địa chỉ tổ 1, khu phố 7, thị trấn An Thới.
Buộc Công ty ĐT hoàn trả lại cho ông Tr, bà M số tiền 100.000.000 đồng.
- Tuyên hủy Biên bản thỏa thuận ngày 20/06/2018 giữa ông Vũ Văn Tr với Công ty ĐT.
Buộc Công ty ĐT hoàn trả lại cho ông Tr, bà M số tiền 650.000.000 đồng.
- Đình chỉ yêu cầu của ông Tr, bà M về việc hủy Hợp đồng dịch vụ pháp Lngày 17/4/2018 giữa ông Vũ Văn Tr với Công ty ĐT đối với công việc liên quan đến diện tích 581m² tại tổ 1, khu phố 7, thị trấn An Thới và buộc Công ty ĐT hoàn trả lại cho ông Tr, bà M số tiền 100.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ pháp lý”.
Bị đơn Công ty Luật trách nhiệm hữu hạn ĐT do ông Lê Minh Hđại diện theo pháp luật xác nhận Công ty hiện nay có địa chỉ tại số 9 HV , DĐ, PQ. Hợp đồng được thực hiện tại PQ nên theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tHphố PQ, tỉnh Kiên Giang.
[2] Về tố tụng: Bị đơn Công ty Luật trách nhiệm hữu hạn ĐT và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn S, bà Dương Thị L, bà Nguyễn Thị Ngọc V, bà Nguyễn Thị H, ông Đỗ TH Tr, bà Nguyễn Trần Kim P và ông Trần Văn D vắng mặt lần thứ hai không có Ldo. Ông Bùi Chí T, ông L Minh C, ông Phan Thanh T, ông Nguyễn Hồng H1 và ông Nguyễn Hùng M có đơn xin vắng mặt. Do đó, căn cứ Điều 227, 228 BLTTDS năm 2015, HĐXX tiến hành xét xử vụ án.
[3] Về nội dung: Ông Tr, bà M cho rằng giữa vợ chồng ông, bà với Công ty Luật TNHH ĐT đã cùng nhau ký kết các hợp đồng dịch vụ pháp lý sau:
Hợp đồng dịch vụ pháp Lngày 17/4/2018 với nội dung Công ty ĐT cử luật sư tham gia tố tụng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông, bà để đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất có diện tích 1.458m² tọa lạc tại tổ 1, khu phố 7, thị trấn An Thới, huyện PQ, tỉnh Kiên Giang của ông, bà bị chính quyền thị trấn An Thới cấp cho các hộ khác.
Hợp đồng dịch vụ pháp Lngày 17/4/2018 với nội dung Công ty ĐT cử luật sư tham gia tố tụng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông, bà là bị đơn trong vụ án đòi lại diện tích đất 581m2 tại tổ 1, khu phố 7, thị trấn An Thới, huyện PQ, tỉnh Kiên Giang. Số tiền ông Tr, bà M đã ứng cho Công ty Luật TNHH ĐT theo 02 hợp đồng này 200.000.000 đồng.
Ngày 10/5/2018, ông Tr, bà M cùng 12 hộ dân khác ký Hợp đồng dịch vụ pháp Lvới Công ty Luật TNHH ĐT để Công ty Luật TNHH ĐT tham gia vụ việc yêu cầu đòi bồi tH và cấp tái định cư cho phần đất của các hộ dân tọa lạc tại thị trấn An Thới, huyện PQ đã bị UBND huyện PQ thu hồi. Tổng giá trị của 13 hợp đồng là 2.900.000.000 đồng. Số tiền ông Tr, bà M đã ứng thay cho 12 hộ dân và của ông, bà tổng cộng là 650.000.000 đồng.
Ông Tr, bà M cho rằng đến nay Công ty Luật TNHH ĐT không thực hiện công việc đã thỏa thuận theo các hợp đồng đã ký nên khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy hợp đồng dịch vụ pháp Lvà hủy biên bản thỏa thuận đã ký, buộc Công ty Luật TNHH ĐT hoàn trả lại Tbộ số tiền đã nhận là 850.000.000 đồng.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của ông Tr, bà M nhận thấy: Ông Lê Minh Hđại diện theo pháp luật của Công ty Luật TNHH ĐT thừa nhận đã cùng với ông Tr ký 02 hợp đồng dịch vụ pháp Lvào ngày 17/4/2018 (Bút lục 12-18) và Biên bản thỏa thuận ngày 20/6/2018 (Bút lục 09-11) cũng như số tiền giao nhận sau khi ký hợp đồng và biên bản thỏa thuận là 850.000.000 đồng nên đây là chứng cứ có thật, được các đương sự thừa nhận nên không cần pHchứng minh theo quy định tại Điều 92 BLTTDS năm 2015.
Ông Hcho rằng đã thực hiện xong công việc theo thỏa thuận tại 02 hợp đồng và biên bản thỏa thuận. Ông Tr, bà M thì cho rằng đối với vụ án do Công ty Luật TNHH ĐT cử luật sư tham gia tố tụng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông để đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất có diện tích 1.458m² tọa lạc tại tổ 1, khu phố 7, thị trấn An Thới, huyện PQ thì vợ chồng ông khiếu nại tại UBND huyện PQ vào năm 2018, đến nay chưa được giải quyết.
Căn cứ Hợp đồng dịch vụ pháp Lngày 17/4/2018 (Bút lục: 12) giữa ông Vũ Văn Tr (bên A) và Công ty Luật TNHH ĐT (bên B) là hợp đồng dịch vụ theo quy định tại Điều 513 BLDS năm 2015. Theo đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên sử dụng dịch vụ, bên sử dụng dịch vụ pHtrả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ. Công việc mà bị đơn Công ty TNHH ĐT pHthực hiện cho ông Tr bao gồm: Tiếp nhận hồ sơ, nghiên cứu hồ sơ theo đúng quy định của pháp luật; Tư vấn cho bên A P án giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật; Trợ giúp bên A soạn thảo các văn bản, đơn từ cần thiết và liên quan đến vụ án; Tham gia tố tụng với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên A.
Đồng thời, tại Biên bản thỏa thuận ngày 20/6/2018 (Bút lục: 09) giữa ông Vũ Văn Tr và Công ty Luật TNHH ĐT (do ông Lê Minh Hđại diện ký tên) thể hiện: Ngày 10/5/2018 Văn phòng luật sư ĐT ký hợp đồng dịch vụ pháp Lvới các hộ sau: Bùi Chí T, Trần Văn Sò, LMinh C … Vũ Văn Tr. Nội dung hai bên thỏa thuận sau khi đòi được đất tái định cư thì các hộ trên trả cho Văn phòng Luật sư mỗi hộ 200.000.000 đồng … Các bên thỏa thuận khi ký hợp đồng là anh Vũ Văn Tr sẽ ứng trước cho mỗi hộ 50.000.000 đồng để làm chi phí thực hiện công việc cho văn phòng ĐT. Tất cả 13 hộ trên đã cam kết thực hiện việc thanh toán chi phí cho Văn phòng luật sư ĐT và Văn phòng luật sư ĐT cam kết thực hiện việc như đã ký hợp đồng với các bên ngày 10/5/2018. Ông Vũ Văn Tr đã nộp thay cho 13 hộ là 650.000.000 đồng.
Tại hợp đồng ngày 10/5/2018 ký giữa ông Bùi Chí T với Công ty Luật TNHH ĐT (Bút lục 19-21) thể hiện: Hai bên thỏa thuận thời gian thực hiện hợp đồng này là 12 tháng tính từ ngày ký kết hợp đồng; Về thời hạn chấm dứt thực hiện hợp đồng khi có một trong các sự kiện sau: Kết thúc việc yêu cầu bồi tH và được sự đồng ý của UBND huyện/Bên A tự nguyện kết thúc hợp đồng trước thời hạn/Các bên đương sự hòa giải thành.
Ông Tr, bà M cho rằng công việc nêu trên chưa được UBND tHphố PQ bồi tH, Công ty ĐT cho rằng theo thỏa thuận các bên đã đồng ý chấm dứt nhưng không cung cấp được tài liệu thể hiện việc Công ty đã có thực hiện các công việc nêu trên cho các đương sự. Do đó, yêu cầu của ông Tr, bà M buộc công ty ĐT pHhoàn trả số tiền 650.000.000 đồng đã ứng trước là có căn cứ.
Đối với Hợp đồng dịch vụ pháp Lngày 17/4/2018 giữa ông Vũ Văn Tr (bên A) và Công ty Luật TNHH ĐT (bên B) thể hiện nội dung các bên thỏa thuận bên Công ty ĐT cử luật sư tham gia tố tụng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên ông Tr là bị đơn trong vụ án bị kiện đòi lại số diện tích đất 581m2 tại tổ 1, khu phố 7, thị trấn An Thới, huyện PQ, tỉnh Kiên Giang. Theo lời trình bày của ông Tr và ông Hđều thống nhất vụ kiện đã được Tòa án nhân dân tHphố PQ giải quyết. Trong vụ án này ông Tr là người bị kiện trong vụ án dân sự, người khởi kiện có tên là Hạnh và một số người khác. Vụ án được Tòa án PQ thụ Lnăm 2020, đến năm 2022 thì Tòa án PQ đình chỉ. Do nguyên đơn kháng cáo nên vụ án bị Tòa án tỉnh Kiên Giang hủy quyết định đình chỉ và giao hồ sơ về cho Tòa án PQ giải quyết lại nhưng sau đó thì hồ sơ đã chuyển vào tỉnh, hiện Tòa án tỉnh Kiên Giang đang giải quyết.
Theo thỏa thuận tại Điều 5 của Hợp đồng thì hợp đồng chấm dứt khi kết thúc giai đoạn xét xử sơ thẩm, phúc thẩm. Mặc dù vụ án trên chưa được giải quyết xong, nhưng Công ty Luật TNHH ĐT đã thực hiện xong công việc theo hợp đồng cụ thể là đã được Tòa án tỉnh Kiên Giang giải quyết phúc thẩm bằng Quyết định hủy Quyết định đình chỉ của cấp sơ thẩm là Hợp đồng đã chấm dứt. Do đó, ông Tr và bà M yêu cầu Công ty Luật TNHH ĐT hoàn trả lại 100.000.000 đồng chi phí dịch vụ của hợp đồng này là không có căn cứ. Tại phiên tòa, ông Tr, bà M xin rút yêu cầu khởi kiện đối với công việc liên quan đến tranh chấp diện tích đất 581m2 này. Xét thấy, đây là sự tự nguyện của ông Tr, bà M không trái quy định pháp luật nên HĐXX chấp nhận.
Từ những căn cứ trên, HĐXX chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Tr, bà M.
[4] Về án phí: Ông Tr, bà M được chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên không pHchịu án phí.
Công ty Luật TNHH ĐT pHchịu án phí không có giá ngạch 600.000 đồng và án phí trên số tiền buộc pHtrả cho ông Tr, bà M là 750.000.000 đồng = 20.000.000 đồng + (350.000.000 đồng x 4%) = 34.000.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 26, 35, 39, 147, 227, 244, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 513, 515, 516, 517, 518, 519 Bộ luật dân sự 2015; Điều 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban TH vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản Lvà sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1]. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Văn Tr, bà Nguyễn Thị M đối với Công ty Luật TNHH ĐT.
[2]. Hủy Hợp đồng dịch vụ pháp Lngày 17/4/2018 ký giữa ông Vũ Văn Tr với Công ty Luật TNHH ĐT đối với việc thực hiện công việc liên quan đến diện tích đất 1.458m² tại địa chỉ tổ 1, khu phố 7, thị trấn An Thới, huyện PQ.
Buộc Công ty Luật TNHH ĐT hoàn trả lại cho ông Tr, bà M số tiền 100.000.000 đồng.
Hủy Biên bản thỏa thuận ngày 20/06/2018 ký giữa ông Vũ Văn Tr với Công ty Luật TNHH ĐT.
Buộc Công ty Luật TNHH ĐT hoàn trả lại cho ông Tr, bà M số tiền 650.000.000 đồng.
Tổng cộng Công ty Luật TNHH ĐT pHtrả lại cho ông Tr, bà M 750.000.000 đồng (Bảy trăm năm mươi triệu đồng).
Kể từ ngày người được thi Hán có đơn yêu cầu thi Hán, hàng tháng người pHthi Hán còn pHchịu thêm lãi suất của số tiền chưa thi Hán theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
[3]. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Tr, bà M về việc hủy Hợp đồng dịch vụ pháp Lngày 17/4/2018 ký giữa ông Vũ Văn Tr với Công ty Luật TNHH ĐT đối với việc thực hiện công việc liên quan đến diện tích đất 581m² tại tổ 1, khu phố 7, thị trấn An Thới, huyện PQ và buộc Công ty Luật TNHH ĐT hoàn trả lại cho ông Tr, bà M số tiền 100.000.000 đồng.
[4]. Về án phí: Ông Tr, bà M không pHchịu án phí nên được hoàn trả 18.750.000 đồng (Mười tám triệu, bảy trăm năm mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007758 ngày 27/11/2020 của Chi cục Thi Hán dân sự huyện PQ (nay là tHphố PQ), tỉnh Kiên Giang.
Công ty Luật TNHH ĐT pHchịu án phí tổng cộng 34.600.000 đồng (ba mươi bốn triệu, sáu trăm nghìn đồng).
[5] Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người vắng mặt thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
Tr hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi Hán dân sự thì người được thi Hán dân sự, người hành thi Hán dân sự có quyền thỏa thuận, quyền yêu cầu, tự nguyện hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi Hán dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi Hán dân sự
Bản án về tranh chấp hợp đồng dịch vụ pháp lý số 47/2024/DS-ST
| Số hiệu: | 47/2024/DS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Thành phố Rạch Giá - Kiên Giang |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Ngày ban hành: | 05/04/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về