Bản án về tranh chấp hợp đồng đặt cọc số 46/2024/DS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG

BẢN ÁN 46/2024/DS-ST NGÀY 16/08/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG ĐẶT CỌC

Ngày 16 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 165/2022/TLST-DS ngày 18 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc, tranh chấp hợp đồng ủy quyền yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu và tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2024/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên số 67/2024/QĐST-DS ngày 24-7-2025 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Vợ chồng ông K’ Mẽ, sinh năm 1970, bà Ka D, sinh năm 1971 Địa chỉ: Số C TDP K, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông K’ Briss, sinh năm 1988; Địa chỉ: Số A thôn Đ, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. (Văn bản ủy quyền ngày 23-12-2023).

- Bị đơn: Bà Ka R, sinh năm 1989 Địa chỉ: Thôn D, xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Văn phòng công chứng Phạm Thị Q Địa chỉ: Số A K, phường B, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.

2. Văn Phòng C Địa chỉ: Số F quốc lộ B, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.

3. Anh K’ Môi Địa chỉ: Số B tổ dân phố K, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.

4. Anh K’ T Địa chỉ: Số C tổ dân phố K, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.

5. Ông Lê Viết T1 Địa chỉ: Thôn K, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế.

6. Bà Nguyễn Thị Sinh Địa chỉ: Số C thôn P, xã H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị S: Bà Nguyễn Thị H; Địa chỉ: Số D KQH P, phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. (văn bản ủy quyền ngày 22-12-2023).

Nguyên đơn vợ chồng ông M, bà D và ông B đại diện theo ủy quyền nguyên đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà S và bà H đại diện theo ủy quyền có mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng công chứng Trần Đức K1, Văn phòng công chứng Phạm Thị Q vắng mặt nhưng có đơn xin giải quyết vắng mặt, bị đơn bà Ka R và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh K’ Môi, anh K’ Tiến ông Lê Viết T1 vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện, lời khai và lời trình bày tại phiên tòa nguyên đơn vợ chồng ông M, bà D và ông B đại diện theo ủy quyền nguyên đơn trình bày: Ngày 08-8-2022 vợ chồng ông M, bà D có thỏa thuận sang nhượng quyền sử dụng đất cho bà Ka R đối với diện tích đất 6.632m2 thuộc thừa số 288, tờ bản đồ số 77 xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng (Đo đạc mới, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 12-8-2020 diện tích 6.832,6 m2 thuộc thừa số 228, tờ bản đồ số 18 xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng) với giá thỏa thuận 2.800.000.000đ. Để đảm bảo thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hai bên có lập hợp đồng đặt cọc ngày 08-8-2022, theo đó bà Ka R đặt cọc cho vợ chồng ông, bà tổng số tiền 230.000.000đ và cam kết sau 20 ngày kể từ ngày 08-8-2022 bà R sẽ giao tiếp cho vợ chồng ông, bà số tiền 600.000.000đ, số tiền còn lại bà R thanh toán vào ngày 15-10-2022 tuy nhiên đến ngày trả số tiền bà R không thực hiện đúng như cam kết, vợ chồng ông M đã nhiều lần liên lạc để gặp bà R nhưng bà lẩn tránh nên không gặp được. Ngày 10-8-2022, bà Ka R yêu cầu vợ chồng ông, bà tiếp tục ký hợp đồng ủy quyền, ủy quyền cho bà Ka R đối với diện tích đất trên, như vậy hợp đồng đặt cọc ngày 08-8-2022 chưa thực hiện, chưa giao nhận tiền bà R lừa dối vợ chồng ông, bà ký hợp đồng ủy quyền. Diện tích đất trên vợ chồng ông, bà đang quản lý sử dụng từ trước đến nay.

Vợ chồng ông, bà được biết diện tích đất trên đến ngày 19-9-2022 bà R đã sang nhượng cho bà Nguyễn Thị S; Địa chỉ: Thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng tại Văn phòng C; Địa chỉ: Số F, quốc lộ B, khu phố B, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Sau khi biết sự việc vợ chồng ông M nhiều lần liên hệ với bà R để hỏi nhưng bà R lẩn tránh nên không gặp được.

Nay vợ chồng ông, bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu đối với hợp đồng ủy quyền ngày 10-8-2022 giữa vợ chồng ông M, bà D1 và bà R ký kết, được Văn phòng công chứng Phạm Thị Q chứng thực số 6908, quyền số 01/2022/TP/CC-SCC/HĐGD do bà R có hành vi gian dối, khi sang nhượng đất trên không thông báo cho nguyên đơn biết và yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Ka R và bà Nguyễn Thị S được Văn phòng C công chứng ngày 19-9-2022. Không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng. Vợ chồng ông M, Ka D và ông B đại diện theo ủy quyền nguyên đơn xin rút một phần nội dung yêu cầu khởi kiện về việc tranh chấp hợp đồng đặt cọc giữa vợ chồng ông, bà và bà Ka R ký kết ngày 08-8-2022 và không yêu cầu bà R trả bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nữa vì bà S đã trả cho vợ chồng ông M.

- Bị đơn bà Ka R đã được Tòa án thông báo thụ lý vụ án và triệu tập hợp lệ các văn bản tố tụng đến Tòa án để làm việc và giải quyết vụ án nhưng không đến Tòa nên không có ý kiến trình bày.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng công chứng Phạm Thị Q vắng mặt nhưng có đơn xin giải quyết vắng mặt và có bản trình bày ý kiến: Ngày 10-8-2022 Văn phòng công chứng Phạm Thị Q có tiếp nhận hồ sơ yêu cầu công chứng Hợp đồng ủy quyền giữa hộ gia đình ông K’ Mẽ với bà Ka R tại thửa đất số 228, tờ bản đồ số 18, diện tích 6.832,6m2, căn cứ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CX 199431 do Sở T2, tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 19-8-2020. Sau khi tiếp nhận hồ sơ yêu cầu công chứng, công chứng viên Phạm Thị Q đã kiểm tra thành phần giấy tờ cần phải có trong hồ sơ theo quy định. Bên ủy quyền có giấy xác nhận nhân khẩu tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu vào ngày 29-12-2000, tất cả các thành viên trong hộ gia đình đều có mặt và cung cấp đầy đủ các giấy tờ theo quy định. Sau đó công chứng viên kiểm tra các thông tin trên hệ thống cơ sở dữ liệu công chứng tỉnh Lâm Đồng thì không có thông tin văn bản nào liên quan đến việc ngăn chặn phong tỏa thừa đất nêu trên và các cá nhân có liên quan trong hợp đồng. Do bà Ka D không biết đọc, biết viết nên đã tự mời người làm chứng cho mình theo quy định, sau đó công chứng viên đã giải thích quyền và nghĩa vụ và hậu quả pháp lý cho hai bên trước khi ký kết hợp đồng ủy quyền, tiến hành đối chiếu bản chính các giấy tờ theo luật công chứng năm 2014 và chứng nhận hợp đồng ủy quyền số 6908 quyền số 01/2022/TP/CC-SCC/HĐGD. Việc văn phòng công chứng chứng nhận hợp đồng ủy quyền nêu trên là đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật, các bên tham gia có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, tự nguyện giao kết hợp đồng, không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Tại thời điểm chứng nhận tài sản giao dịch không bị kê biên, phong tỏa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng C vắng mặt nhưng có đơn xin giải quyết vắng mặt và có bản trình bày ý kiến: Ngày 19-9-2022 bà Ka R, sinh năm 1989, địa chỉ tại xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng cùng bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1969, địa chỉ xã H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng đến Văn phòng C xuất trình giấy tờ ủy thân, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CX 199431, hợp đồng ủy quyền số công chứng 6908, được Văn phòng C chứng nhận ngày 10-8-2022 (vợ chồng ông K’ Mẽ, bà Ka D cùng các thành viên trong gia đình là ông K’ Môi, ông K’ T đã ủy quyền cho bà Ka R toàn quyền định đoạt quyền sử dụng đất số CX 199431) đề nghị Văn phòng C làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Sau khi công chứng viên Trần Đức khắc kiểm tra hồ sơ yêu cầu công chứng cho thấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CX 199431 do sở tài nguyên và môi trường tỉnh T2 cấp.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh K’ Tiến vắng mặt tại phiên tòa tuy nhiên tại bản tự khai ngày 01-8-2023 anh T trình bày: Ngày 10-8-2022 bà Ka R có gọi điện thoại cho anh vì lúc đó anh đang ở trên Đ nên bà Ka R thuê xe cho anh từ Đ về B. Khi đến Văn phòng công chứng Phạm Thị Q thì anh thấy bố mẹ anh và anh của anh đã có mặt ở văn phòng C, anh chỉ ký, khi anh ký không ai giải thích cho anh biết. Bà R nói ký xong rồi mới có tiền nên anh ký trong hợp đồng đặt cọc bà R đưa trước là 230.000.000đ.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh K’ Môi vắng mặt tại phiên tòa tuy nhiên tại bản tự khai ngày 01-8-2023 anh M1 trình bày: Ngày 10-8-2022 gia đình có xuống Bảo Lộc tại Văn phòng công chứng Phạm Thị Q để làm hợp đồng ủy quyền cho bà Ka R bán đất. Tại văn phòng công chứng bà Ka R nói ký xong rồi mới có tiền thì ông ký trong hợp đồng đặt cọc, bà R đưa trước 230.000.000đ.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Viết T1 đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt không có ý kiến trình bày.

- Bà Nguyễn Thị H đại diện theo ủy quyền người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị S trình bày: Ngày 19-9-2022 bà S có nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với bà Ka R đối với diện tích đất 6.832,6m2 thửa số 228, tờ bản đồ số 18 xã T theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CX 199431 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh T2 cấp hộ ông K’ Mẽ, giá chuyển nhượng 900.000.000đ. Tại thời điểm ký kết hợp đồng bà Ka R thông báo, bà được hộ gia đình ông M ủy quyền cho bà chuyển nhượng cho người khác và cung cấp giấy ủy quyền, sau khi ký kết bà đã thanh toán toàn bộ số tiền 900.000.000đ cho bà R và bà R giao bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà S việc bà mua đất trên chỉ thông qua người môi giới. Ngoài ra hai bên còn thỏa thuận bà R có trách nhiệm liên hệ với hộ ông M để làm thủ tục sang tên cho bà S. Sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng bà S vẫn chưa đến thửa đất để canh tác đến nay được biết ông M vẫn đang canh tác trên đất. Sau đó bà có đi làm thủ tục đăng ký biến động thì được biết đất trên đang tranh chấp.

Nay bà S khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất đối với đất số CX 199431 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh T2 cấp ngày 19-8-2022 tên hộ ông K’ Mẽ, diện tích đất 6.832,6m2 thửa số 228, tờ bản đồ số 18 xã T giữa bà S và bà R ký kết ngày 19-9-2022 được văn phòng C chứng thực. Đề nghị bà Ka R tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng, thực hiện thủ tục đăng ký biến động cập nhật sang tên cho bà S trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và bàn giao thửa đất số 228, tờ bản đồ số 18, diện tích: 6.832,6m2 địa chỉ thửa đất: xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng cho bà S. Trường hợp tuyên hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà S và bà R ký kết 19-9-2022, yêu cầu bà R thanh toán trả số tiền 900.000.000đ mà bà R đã nhận của bà và yêu cầu tính lãi suất với mức lãi suất 0,83% tính từ tháng 10-2022 đến tháng 6 năm 2024 là 21 tháng thành tiền làm tròn 157.000.000đ.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng có quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng khác trong quá trình giải quyết vụ án là đúng quy định pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn tuyên hủy Hợp đồng ủy quyền số công chứng số 6908, quyền số 01/2022/TP/CC-SCC/HĐGD, được Văn phòng C công chứng ngày 10-8-2022 giữa ông K’ Mẽ, bà Ka D với bà Ka R ký kết. Tuyên hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Ka R và bà Nguyễn Thị S ký kết được Văn phòng C công chứng ngày 19-9-2022. Buộc bà Ka R trả cho bà S số tiền 900.000.000đ, không chấp nhận yêu cầu tính lãi của bà S.

Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của vợ chồng K’ Mẽ, bà Ka D về việc khởi kiện tranh chấp hợp đồng đặt cọc.

Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu và xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn bà Ka R vắng mặt không có lý do, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng công chứng Trần Đức K1; Văn phòng công chứng Phạm Thị Q vắng mặt nhưng có đơn xin giải quyết vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh K’ Môi, anh K’ T và ông Lê Viết T1 vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ các Điều 26; 35; 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 562 của Bộ luật dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là tranh chấp hợp đồng đặt cọc, tranh chấp hợp đồng ủy quyền yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu và tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của vợ chồng ông K’ Mẽ bà Ka D, Hội đồng xét xử xét thấy: Xuất phát từ việc vợ chồng ông M, bà D và bà R thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 6.632m2 thuộc thừa số 288, tờ bản đồ số 77 xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng (Đo đạc mới, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 12-8-2020 diện tích 6.832,6 m2 thuộc thừa 228, tờ bản đồ số 18 xã T) với giá thỏa thuận 2.800.000.000đ. Để đảm bảo thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hai bên có lập hợp đồng đặt cọc ngày 08-8-2022 (Bản chính do bà Ka R đang giữ), theo đó bà Ka R đặt cọc cho vợ chồng ông M tổng số tiền 230.000.000đ và cam kết sau 20 ngày kể từ ngày 08-8-2022 bà R sẽ giao tiếp cho vợ chồng ông, bà số tiền 600.000.000đ, số tiền còn lại bà R thanh toán vào ngày 15-10-2022 tuy nhiên đến ngày trả số tiền bà R không thực hiện đúng như cam kết, vợ chồng ông M và ông B đại diện theo ủy quyền xin rút nội dung yêu cầu nay không yêu cầu giải quyết về tranh chấp hợp đồng đặt cọc nữa vì bản chính hợp đồng đặt cọc do bà R đang giữ nên đình chỉ một phần nội dung yêu cầu về việc tranh chấp hợp đồng đặt cọc là có căn cứ.

[3] Đối với yêu cầu hủy hợp đồng ủy quyền ngày 10-8-2022 giữa bà bà Ka R với vợ chồng ông K’ Mẽ ký kết. Vợ chồng ông M, bà D cho rằng do thiếu hiểu biết, bà Ka R yêu cầu vợ chồng ông, bà tiếp tục ký hợp đồng ủy quyền, ủy quyền cho bà Ka R đối với diện tích đất trên, như vậy hợp đồng đặt cọc ngày 08-8-2022 chưa thực hiện, chưa giao nhận tiền bà R lừa dối vợ chồng ông, bà tiếp tục ký hợp đồng ủy quyền. Vợ chồng ông, bà được biết diện tích đất trên đến ngày 19-9-2022 bà R đã sang nhượng cho bà Nguyễn Thị Sinh địa chỉ: thị trấn L, huyện D, tỉnh Lâm Đồng tại Văn phòng C địa chỉ: Số F, quốc lộ B, khu phố B, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng, sau khi biết sự việc vợ chồng ông M nhiều lần liên hệ với bà R để hỏi nhưng bà R lẩn tránh nên không gặp được.

[4] Xét về thẩm quyền công chứng: Điều 55 Luật Công chứng quy định Công chứng viên chỉ được công chứng hợp đồng giao dịch dân sự trong phạm vi nơi tổ chức hành nghề công chứng đặt trụ sở. Vì vậy, Công chứng viên của Văn phòng C có đủ thẩm quyền để chứng nhận hợp đồng ủy quyền giữa vợ chồng ông K2, bà Ka D với bà Ka R.

[5] Xét về trình tự, thủ tục, hình thức của văn bản công chứng: Hồ sơ về việc thực hiện chứng nhận các hợp đồng ủy quyền nói trên đã đáp ứng các giấy tờ, thủ tục quy định tại các Điều 40; Điều 41; Điều 43; Điều 44; Điều 45; Điều 46 Điều 47; Điều 48 Luật Công chứng; Điều 17 Nghị định 29/2015/NĐ-CP ngày 15/3/2015. Trong vụ án này nguyên đơn vợ chồng ông M, bà D yêu cầu hủy hợp đồng ủy quyền lý do bị lừa dối và bên được ủy quyền không thực hiện đúng như thỏa thuận trong hợp đồng, bị đơn bà R thì không đến Tòa án để giải quyết. Xét thấy hợp đồng ủy quyền là hợp đồng song vụ, người ủy quyền và người được ủy quyền có quyền và nghĩa vụ và có sự ràng buộc với nhau khi thực hiện việc ủy quyền được thể hiện tại Điều 4 và Điều 5 của hợp đồng ủy quyền, quy định quyền và nghĩa vụ của các bên. Tại Điều 5 của hợp đồng ủy quyền quy định quyền và nghĩa vụ của bên B tức bên được ủy quyền, quy định tại khoản 1 Bên B có các nghĩa vụ sau đây:

“- Thực hiện công việc theo ủy quyền và báo cho bên A về việc thực hiện công việc đó.

- Giao cho bên A tài sản đã nhận và những lợi ích thu được trong khi thực hiện ủy quyền theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật.” Đối chiếu với quy định trên thì việc bà Ka R là bên B, bên được ủy quyền thực hiện việc chuyển nhượng diện tích đất trên cho bà Nguyễn Thị S không thông báo cho vợ chồng ông M, bà D biết về việc sang nhượng đất dẫn đến vợ chồng ông M, bà D không biết về việc sang nhượng trên, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của vợ chồng ông M, bà D, bà R đã vi phạm nghĩa vụ cam kết. Sau khi biết sự việc thì vợ chồng ông M nhiều lần liên hệ với bà R để hỏi nhưng bà R lẩn tránh nên không gặp được. Nay vợ chồng ông M yêu cầu hủy hợp đồng ủy quyền trên là có căn cứ chấp nhận.

[6] Từ những phân tích trên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vợ chồng ông M, bà D tuyên hủy hợp đồng ủy quyền công chứng số 6908, quyền số 01/2022/TP/CC-SCC/HĐGD, tại Văn phòng C công chứng ngày 10-8-2022 giữa ông K’ Mẽ, bà Ka D với bà Ka R ký kết đối với diện tích đất 6.832,6m2 thửa số 228, tờ bản đồ số 18 xã T số giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CX 199431 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh T2 cấp ngày 19-8-2022 tên hộ ông K’ Mẽ.

[7] Đối với yêu cầu của vợ chồng M, bà D về việc yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị S và bà Ka R ký kết được Văn phòng C công chứng ngày 19-9-2022, Xét thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Ka R và bà S ký kết căn cứ hợp đồng ủy quyền số 6908, quyền số 01/2022/TP/CC-SCC/HĐGD, được Văn phòng C công chứng ngày 10-8-2022. Do hợp đồng ủy quyền giữa vợ chồng ông M, bà D và bà R bị hủy nên mọi giao dịch sau đối với đối tượng trong hợp đồng ủy quyền đưa ra giao dịch sẽ không thực hiện được. Nay vợ chồng ông M, bà D yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Ka R và bà Nguyễn Thị S ký kết được Văn phòng C công chứng ngày 19-9-2022 là có căn cứ chấp nhận.

[8] Đối với yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị S về việc yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất đối với diện tích đất số CX 199431 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh T2 cấp ngày 19-8-2022 tên hộ ông K’ Mẽ, diện tích đất 6.832,6m2 thửa số 228, tờ bản đồ số 18 xã T giữa bà S và bà R ký kết ngày 19-9-2022 được văn phòng C chứng thực, như đã phân tích ở trên do hợp đồng ủy quyền số 6908, quyền số 01/2022/TP/CC-SCC/HĐGD, được Văn phòng C công chứng ngày 10-8-2022 bị hủy, nên mọi giao dịch về đối tượng trong hợp đồng ủy quyền trên đều không thực hiện được, vì vậy bà S yêu cầu công nhận hợp đồng trên là không có căn cứ chấp nhận.

[9] Về giải quyết hậu quả của hợp đồng giữa bà Ka R với bà Nguyễn Thị S: Bà S và bà H đại diện theo ủy quyền bà S có ý kiến trường hợp hủy hợp đồng chuyển nhượng trên thì yêu cầu bà R phải trả số tiền đã nhận 900.000.000đ và yêu cầu tính lãi suất với mức lãi suất 0,83%. Tính từ tháng 10 năm 2022 đến tháng 6 năm 2024 là 21 tháng thành tiền 156.870.000đ. Xét yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng của bà S, như đã phân tích ở trên, do hợp đồng ủy quyền được hủy nên giao dịch dân sự về đối tượng trong hợp đồng ủy quyền không thực hiện được nên buộc bà Ka R phải hoàn trả lại cho bà S số tiền đã nhận 900.000.000đ là có căn cứ.

[10] Đối với yêu cầu của bà S về việc yêu cầu tính lãi suất trên số tiền 900.000.000đ tiền sang nhượng quyền sử dụng đất đã giao cho bà R. Hội đồng xét xử xét thấy số tiền trên là tiền mua bán đất chứ không phải tiền vay mượn. Nay bà S và bà H đại diện theo ủy quyền yêu cầu tính lãi với mức lãi suất 0,83%, tính từ tháng 10 năm 2022 đến tháng 6 năm 2024 là 21 tháng thành tiền làm tròn 157.000.000đ, bà S yêu cầu trả số tiền lãi trên không có căn cứ chấp nhận.

[11] Đối với yêu cầu của vợ chồng ông M, bà D về việc yêu cầu hủy hợp đồng đặt cọc giữa vợ chồng ông, bà với bà R ký kết ngày ngày 08-8-2022, theo đó bà Ka R đặt cọc cho vợ chồng ông, bà tổng số tiền 230.000.000đ và cam kết sau 20 ngày kể từ ngày 08-8-2022 bà R sẽ giao tiếp cho vợ chồng ông, bà số tiền 600.000.000đ, số tiền còn lại bà R thanh toán vào ngày 15-10-2022 tuy nhiên đến ngày trả số tiền bà R không thực hiện đúng như cam kết (Bản chính hợp đồng đặt cọc bà R đang giữ). Nay vợ chồng ông M, bà D rút một phần nội dung yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết về hợp đồng đặt cọc nên đình chỉ một phần nội dung yêu cầu khởi kiện là phù hợp.

[12] Về án phí: Căn cứ Điều 144; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, do chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bị đơn buộc bị đơn bà Ka R phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch phần hủy hợp đồng ủy quyền và án phí trả số tiền 900.000.000đ cho bà S, án phí là 36.000.000đ + 100.000.000đ x 3% =39.000.000đ. Tổng cộng phải chịu án phí 39.300.000đ.

Buộc bà Nguyễn Thị S phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm phần bị bác yêu cầu về việc yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và án phí bác yêu cầu trả lãi 157.000.000đ x 5% = 7.850.000đ. Tổng cộng bà Nguyễn Thị S phải chịu án là 8.150.000đ. Hoàn trả cho vợ chồng ông K’ Mẽ số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 3, khoản 9 và khoản 11 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 227, Điều 228; Điều 266 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Điều 328; Điều 402; Điều 410; Điều 500; Điều 501; Điều 562; Điều 563; Điều 565; Điều 566; Điều 568 và 569 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của vợ chồng ông K’ Mẽ, bà Ka D, về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc, tranh chấp hợp đồng ủy quyền yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu và tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” tuyên hủy hợp đồng ủy quyền số 6908, quyền số 01/2022/TP/CC-SCC/HĐGD, được Văn phòng C ngày 10-8-2022.

Tuyên hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất giữa bà Ka R và bà Nguyễn Thị S ký kết được văn phòng C chứng thực ngày 19-9-2022 đối với diện tích đất 6.832,6m2 thửa số 228, tờ bản đồ số 18 xã T số giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CX 199431 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh T2 cấp ngày 19-8-2022 tên hộ ông K’ Mẽ.

2. Đình chỉ một phần nội dung yêu cầu khởi kiện của vợ chồng ông K’ Mẽ, bà Ka D về việc yêu cầu hủy hợp đồng đặt cọc.

3. Bác yêu cầu khởi kiện yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị S về việc yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất đối với diện tích đất 6.832,6m2 thửa số 228, tờ bản đồ số 18 xã T số giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CX 199431 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh T2 cấp ngày 19-8-2022 tên hộ ông K’ Mẽ, giữa bà Nguyễn Thị S và bà Ka R ký kết ngày 19-9-2022 được văn phòng C chứng thực. Buộc bà Ka R trả cho bà Nguyễn Thị S số tiền đã nhận 900.000.000đ.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu bên phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán của số tiền còn phải thi hành án thì phải trả số tiền lãi, tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả, theo mức lãi suất quy định Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

4. Bác yêu cầu của bà Nguyễn Thị S về việc yêu cầu bà Ka R trả tiền lãi 157.000.000đ.

5. Về án phí: Buộc bà Ka R phải chịu 39.300.000đ án phí dân sự sơ thẩm.

Buộc bà Nguyễn Thị S phải chịu 8.150.000đ án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005649 ngày 15-3-2024 và số tiền 21.855.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005897 ngày 07-6-2024. Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị S số tiền 14.005.000đ tạm ứng án phí còn thừa.

Hoàn trả cho vợ chồng ông K’ Mẽ, bà K’ Dỏih số tiền 6.050.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006870 ngày 18-10-2022 và số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006974 ngày 8-11-2022 của chi cục thi hành án dân sự huyện Di Linh.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Người vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

145
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

 Bản án về tranh chấp hợp đồng đặt cọc số 46/2024/DS-ST

Số hiệu:46/2024/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Di Linh - Lâm Đồng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:16/08/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về