TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
BẢN ÁN 325/2024/DS-PT NGÀY 25/06/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG ĐẶT CỌC
Ngày 25/6/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 155/2024/TLPT-DS ngày 03 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 56/2024/DS-ST ngày 13/3/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 197/2024/QĐXXPT DS ngày 13/5/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng Y, sinh năm 1988; địa chỉ: ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Bến Tre.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:
1. Ông Ngô Minh N, sinh năm 1964; địa chỉ: C G, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.
2. Ông Nguyễn Văn N1, sinh năm 1996; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 02/11/2023 và 14/12/2023).
- Bị đơn: Công ty Cổ phần Đ; địa chỉ: số A ấp H, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Dương Kim C; địa chỉ: tầng B, Tòa nhà A, Golden Building, số D, đường Đ, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 27/5/2024); có mặt.
- Người kháng cáo: Bị đơn Công ty Cổ phần Đ
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 31/10/2023; lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Ngày 06/4/2021, bà Nguyễn Thị Hồng Y và Công ty Cổ phần Đ (gọi tắt Công ty Đ) ký kết thỏa thuận đặt cọc số B2-19.06/TTĐC-LDGSKY/2021 để đảm bảo cho việc mua căn hộ ký hiệu B2-19.06 khu C, địa chỉ dự án: khu căn hộ cao cấp LDG sky tại lô C, khu đô thị M, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương, đây là tài sản hình thành trong tương lai. Quá trình thực hiện hợp đồng, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nộp tiền theo đúng thời hạn thỏa thuận, tổng cộng nguyên đơn đã đóng cho bị đơn số tiền 543.726.600 đồng. Tuy nhiên, đến hết tháng 6 năm 2022, Công ty Đ vẫn không ký hợp đồng mua bán căn hộ với bà Y, bà đã trực tiếp lên dự án để xem tiến độ thi công nhưng dự án vẫn chưa thi công xong phần móng. Do đó, ngày 01/7/2022, bà Y đã đến văn phòng công ty tại tầng G, tòa nhà A G, số D Đ, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh để đề nghị thanh lý thỏa thuận đặt cọc. Sau các buổi làm việc ngày 01/11/2022, 21/11/2022, 30/11/2023 Công ty Đ đã thanh toán tiền qua chuyển khoản cho bà Y bốn lần vào ngày 21/11/2022 là 30.000.000 đồng, ngày 30/11/2022 là 20.000.000 đồng, ngày 07/12/2022 là 20.000.000 đồng và ngày 15/12/2022 là 20.000.000 đồng. Các ngày 11/01/2023 và 31/3/2023, bà Y đến văn phòng Công ty Đ để nhận lại số tiền còn lại theo biên bản thanh lý nhưng Công ty không thực hiện theo đúng cam kết. Tháng 10/2023, bà Y đã gửi thông báo bằng E-mail đến Công ty Đ về việc khởi kiện vụ án tại Tòa án có thẩm quyền. Hiện nay đã quá thời hạn theo thỏa thuận, nhưng Công ty Đ vẫn không trả tiền cho bà Y. Việc vi phạm nghĩa vụ trả nợ của Công ty Đ đã xâm phạm trực tiếp quyền và lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị Hồng Y. Nay, bà Y yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Công ty Cổ phần Đ trả cho bà Y số tiền 453.726.600 đồng và tiền lãi chậm trả tính từ ngày 22/02/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 13/3/2024) là 385 ngày với mức lãi suất 0,02%/ngày = 34.936.948 đồng, tổng cộng là 488.663.548 đồng.
- Tại bản tự khai và lời khai trong quá trình tố tụng, người đại diện hợp pháp của bị đơn là bà Nguyễn Thị N2 trình bày:
Bị đơn thống nhất với trình bày của nguyên đơn về thời gian, nội dung ký kết thỏa thuận đặt cọc và biên bản thanh lý thỏa thuận đặt cọc giữa bà Y với Công ty Đ. Số tiền bà Y đã đặt cọc cho Công ty Đ là 543.726.600 đồng. Do dịch bệnh C1, bị đơn không thực hiện đúng tiến độ của dự án nên không ký kết hợp đồng mua bán căn hộ với nguyên đơn. Vì vậy, bị đơn và nguyên đơn đã thống nhất chấm dứt thỏa thuận đặt cọc số B2-19.06/TTĐC-LDGSKY/2021, bị đơn đồng ý thanh toán cho nguyên đơn số tiền 453.726.600 đồng đã khấu trừ 90.000.000 đồng đã thanh toán và không đồng ý yêu cầu trả tiền lãi. Do nguyên đơn không thực hiện việc trả hồ sơ gốc cho bị đơn theo khoản 3.2 Điều 3 của biên bản thanh lý thỏa thuận đặt cọc nên bị đơn chưa trả tiền cho nguyên đơn. Nay, bị đơn chỉ đồng ý trả số tiền 453.726.600 đồng cho nguyên đơn và thời gian trả vào ngày 30/6/2024.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 56/2024/DS-ST ngày 13/3/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đã quyết định:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng Y với bị đơn Công ty cổ phần Đ.
- Buộc Công ty cổ phần Đ phải trả cho bà Nguyễn Thị Hồng Y số tiền 488.663.548 (bốn trăm tám mươi tám triệu sáu trăm sáu mươi ba nghìn năm trăm bốn mươi tám) đồng, trong đó:
+ Tiền cọc là 453.726.600d (bốn trăm năm mươi ba triệu bảy trăm hai mươi sáu nghìn sáu trăm đồng);
+ Tiền lãi chậm trả là 34.936.948đ (ba mươi bốn triệu chín trăm ba mươi sáu nghìn chín trăm bốn mươi tám đồng).
Kể từ ngày, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Ngoài ra, bản án còn quyết định về nghĩa vụ chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự, án phí và quyền kháng cáo.
Sau khi tuyên bản án sơ thẩm đến ngày 27/3/2024, bị đơn Công ty Cổ phần Đ kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và người đại diện hợp pháp của bị đơn Công ty Cổ phần Đ giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các bên không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biểu ý kiến: Xét kháng cáo của bị đơn về yêu cầu trả lại số tiền 453.726.600 đồng nhận thấy, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn và bị đơn điều thống về thời gian, nội dung các bên đã thỏa thuận tại hợp đồng đặt cọc số B2-19.06/TTĐC-LDGSKY/2021 và Biên bản thanh lý thỏa thuận đặt cọc ngày 21/11/2022. Các hợp đồng trên được giao kết giữa người có thẩm quyền, thể hiện ý chí thỏa thuận tự nguyện của hai bên, không trái pháp luật, không vi phạm đạo đức xã hội nên có hiệu lực bắt buộc các bên phải tôn trọng thực hiện. Thực hiện hợp đồng nguyên đơn đã đặt cọc cho bị đơn là 543.726.600 đồng nhưng bị đơn không thực hiện đúng cam kết nên ngày 21/12/2022 hai bên đã thống nhất chấm dứt thỏa thuận đặt cọc, số tiền còn lại bị đơn chưa thanh toán cho nguyên đơn là 453.726.600 đồng. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với số tiền 453.726.600 đồng được bị đơn thừa nhận và chấp nhận nên thuộc trường hợp không cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về yêu cầu tính tiền lãi chậm trả: Căn cứ nội dung thỏa thuận tại Biên bản thanh lý hợp đồng đặt cọc ngày 21/11/2022 thì hai bên đã thỏa thuận ngày 21/1/2023 là hạn chót bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn tổng số tiền 543.726.600 đồng nhưng đến nay bị đơn chỉ thanh toán 90.000.000 đồng, số tiền còn lại chưa thanh toán cho nguyên đơn. Bị đơn cho rằng nguyên đơn chưa trả các tài liệu bản chính cho bị đơn nên bị đơn chưa trả tiền cho nguyên đơn, bị đơn không có lỗi về việc chưa trả tiền theo thỏa thuận nên không đồng ý trả tiền lãi cho nguyên đơn là hoàn toàn không phù hợp. Bởi lẽ, việc trả tiền là nghĩa vụ của bị đơn, phía nguyên đơn không thể biết khi nào bị đơn hoàn tất việc trả tiền để thực hiện nghĩa vụ hoàn trả đầy đủ giấy tờ cho bị đơn như trong thỏa thuận và chỉ thực hiện được nghĩa vụ này khi được phía bị đơn thông báo về việc trả tiền; tại biên bản thanh lý chỉ ghi nhận về thời hạn thanh toán tiền mà không ghi rõ về thời gian phía nguyên đơn phải thực hiện nghĩa vụ hoàn trả giấy tờ. Sau khi ký biên bản thanh lý nguyên đơn vẫn thường xuyên đến Công ty Đ yêu cầu việc trả tiền nhưng Công ty Đ không thanh toán. Đồng thời, toàn bộ các văn bản mà các bên ký kết đều được lập thành 03 bản như nhau và bên bị đơn đang giữ 02 bản nên nghĩa vụ hoàn trả các văn bản của nguyên đơn không ảnh hưởng đến thời gian hoàn trả tiền của bị đơn.
Tại Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền: “1. Trong trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. 2. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật này, nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này”. Do bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền nên bị đơn phải chịu trách nhiệm trả lãi trên số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn trả số tiền 453.726.6000 đồng và tiền lãi chậm trả 34.936.948 đồng là có căn cứ.
Về án phí sơ thẩm: Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn số tiền gốc là 453.726.6000 đồng và tiền lãi là 34.936.948 đồng. Căn cứ quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 3 Điều 24 và khoản 4 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí, Công ty Đ phải chịu án phí có giá ngạch đối với tiền gốc và tiền lãi. Toà án cấp sơ thẩm chỉ tuyên buộc bị đơn chịu án phí có giá ngạch đối với số tiền lãi mà không tuyên bị đơn chị án phí có giá ngạch đối với số tiền gốc là trái quy định của pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước.
Từ những phân tích trên nhận thấy Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, kháng cáo của bị đơn không có cơ sở để chấp nhận. Tuy nhiên, phần án phí Tòa cấp sơ thẩm không buộc bị đơn chị án phí có giá ngạch đối với số tiền gốc là không đúng theo khoản 3 Điều 24 và khoản 4 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng sửa một phần án phí theo hướng buộc bị đơn phải chịu thêm án phí có giá ngạch đối với số tiền gốc.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về tố tụng: kháng cáo của bị đơn Công ty Cổ phần Đ là trong hạn luật định, do đó Tòa án giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung vụ án:
Theo đơn kháng cáo của bị đơn Công ty Cổ phần Đ kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị đơn Công ty Cổ phần Đ - ông C xác định chi kháng cáo đối với tiền lãi chậm thanh toán: 34.936.948 đồng, đồng ý thanh toán số tiền: 453.726.600 đồng cho bà Nguyễn Thị Hồng Y. Căn cứ vào Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết trong phạm vi nội dung kháng cáo của bị đơn Công ty Cổ phần Đ đối với số tiền chậm thanh toán là 34.936.948 đồng.
Xét ngày 21/11/2022 nguyên đơn bà Y và bị đơn Công ty Cổ phần Đ thống nhất ký BIỂN bản thanh lý thỏa thuận đặt cọc số B2-19.06/TTĐC-LDGSKY/2021. Theo nội dung Biên bản thanh lý các bên thống nhất chấm dứt Thoả thuận đặt cọc số B2-19.06/TTĐC-LDGSKY/2021 ngày 06/4/2021 và các phụ lục, văn bản, chứng từ liên quan đến thoả thuận đặt cọc (nếu có) giữa hai bên đã ký kết. Đồng thời Công ty Cổ phần Đ có trách nhiệm trả cho bà Y số tiền 543.726.600 đồng trong vòng 60 ngày làm việc, kể từ ngày ký biên bản thanh lý thoả thuận đặt cọc. Công ty Cổ phần Đ đã thanh toán cho bà Y nhiều lần với tổng số tiền là 90.000.000 đồng và bà Y thừa nhận Công ty Cổ phần Đ đã thanh toán 90.000.000 đồng, còn lại số tiền 453.726.600 đồng Công ty Cổ phần Đ chưa trả. Sự thừa nhận của các đương sự là những tình tiết sự kiện, không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, Công ty Cổ phần Đ đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền nên Công ty Cổ phần Đ phải chịu trách nhiệm trả lãi trên số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 là 10%/năm. Nguyên đơn yêu cầu tính lãi chậm trả đối với số tiền 453.726.600 đồng từ ngày 22/02/2023 tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm 13/3/2024 là 385 ngày với mức lãi suất 0,02%/ngày bằng 34.936.948 đồng là phù hợp với quy định pháp luật và có lợi cho bị đơn.
Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đánh giá toàn bộ tài liệu, chứng cứ thể hiện trong hồ sơ xét xử đúng quy định pháp luật và đảm bảo quyền lợi của các bên.
Bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình là có căn cứ nên kháng cáo của bị đơn không được chấp nhận.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tại phiên tòa là không phù hợp.
Về án phí dân sự phúc thẩm: người kháng cáo phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ Điều 148, khoản 1 Điều 308, Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Công ty Cổ phần Đ.
2. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 56/2024/DS-ST ngày 13/3/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
3. Về án phí phúc thẩm: bị đơn Công ty Cổ phần Đ phải chịu 300.000 đồng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí theo Biên lai số 0002685 ngày 28/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án./.
Bản án về tranh chấp hợp đồng đặt cọc số 325/2024/DS-PT
| Số hiệu: | 325/2024/DS-PT |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Bình Dương |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Ngày ban hành: | 25/06/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về