Bản án về tranh chấp hợp đồng đặt cọc số 112/2024/DS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Q, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 112/2024/DS-ST NGÀY 20/08/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG ĐẶT CỌC

Ngày 20 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Q, Th phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 87/2024/TLST-DS ngày 13 tháng 5 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng đặt cọc theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2024/QĐXX-ST ngày 25 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thu H, sinh năm 1984. ĐKHKTT: 1515B, CC Sông Nhuệ, phường K, quận H Đ, thành phố H. Địa chỉ: Số 16, lô D24, KĐT Hai bên đường Lê Trọng Tấn, xã La Phù, huyện Hoài Đức, thành phố H. Có mặt.

- Bị đơn: A Nguyễn Tiến D, sinh năm 1984. Địa chỉ: Xóm 6, thôn Đ, xã ĐT, huyện Q, thành phố H. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1964. Địa chỉ: Xóm 7, thôn Đ, xã ĐT, huyện Q, thành phố H. Xin vắng mặt.

+ A Lê A Tuyên, sinh năm 1984. Địa chỉ: Số 16, lô D24, KĐT Hai bên đường Lê Trọng Tấn, xã La Phù, huyện Hoài Đức, thành phố H (chồng chị H). Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 07/5/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thu H trình bày như sau:

Thông qua anh Nguyễn Hữu H chị được biết chủ sử dụng thửa đất số 66 tờ bản đồ số 18 tại xóm 7, thôn Độ C, xã Đại Th, huyện Q, thành phố H đang có nhu cầu chuyển nhượng thửa đất này. Do cũng có nhu cầu mua đất nên chị đã tìm hiểu về nguồn gốc thửa đất, đến kiểm tra hiện trạng thực tế thửa đất, gặp trực tiếp chủ cũ của thửa đất vẫn đang ở trên thửa đất và được anh H gửi qua điện thoại cho xem giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất. Sau khi thỏa thuận xong với anh H về giá nhận chuyển nhượng thì anh H gửi cho chị địa chỉ đến gặp anh Nguyễn Tiến D để thực hiện việc đặt cọc tiền nhận chuyển nhượng thửa đất trên. Ngày 21/3/2024, chị và anh D đã ký hợp đồng đặt cọc với nội dung Bên A (anh Nguyễn Tiến D) đồng ý bán cho Bên B (chị Nguyễn Thu H) thửa đất số 66 tờ bản đồ số 18 tại xóm 7, thôn Độ C, xã Đại Th, huyện Q, thành phố H. Tại thời điểm hai bên ký hợp đồng đặt cọc, thửa đất đã được UBND huyện Q, thành phố H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BT069400 ngày 12/5/2014 cho hộ ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1964, địa chỉ: thôn Độ C, xã Đại Th, huyện Q, thành phố H. Ngay sau khi ký xong hợp đồng đặt cọc thì chị đã chuyển khoản luôn số tiền 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng) cho anh D để đặt cọc. Trong hợp đồng đặt cọc có nêu thời hạn đặt cọc – thanh toán là 15 ngày kể từ ngày 21/3/2024 đến ngày 06/4/2024 tức là đến ngày 06/4/2024 hai bên sẽ làm thủ tục công chứng, chuyển nhượng tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền và chị phải giao đủ số tiền còn lại cho anh D.

Vì dự định sau khi nhận chuyển nhượng thửa đất thì sẽ thế chấp tại ngân Hàng để vay vốn nên chị đã gửi bản chụp giấy chứng nhận quyền sử dụng của thửa đất cho cán bộ ngân Hàng thẩm định. Qua đó chị mới biết một phần diện tích của thửa đất (19,5m2) thuộc quy hoạch của huyện tỉ lệ 1/10000. Chị và anh D đã đến gặp cán bộ địa chính xã để hỏi và được xác nhận thông tin này là đúng. Ngoài ra, thông tin khác ghi trên giấy chứng nhận quyền sử dụng của thửa đất cũng không chính xác, như: thông tin về tọa độ của thửa đất, về số diện tích đất ở. Chị đã thông báo cho anh D biết và anh D đã đi làm thủ tục đính chính đối với thông tin ghi diện tích đất ở còn thông tin về tọa độ thì không đính chính. Chị yêu cầu anh D hoãn ngày ký hợp đồng chuyển nhượng thửa đất để làm thủ tục đính chính về thông tin tọa độ thửa đất nhưng anh D không đồng ý, yêu cầu chị đúng ngày thỏa thuận trong hợp đồng đặt cọc thì phải đến văn phòng công chứng để ký hợp đồng chuyển nhượng, nếu không sẽ bị mất tiền đặt cọc. Tuy nhiên, đến ngày 06/4/2024 khi chị cùng anh D và vợ chồng ông Đ đến văn phòng công chứng để thực hiện việc ký hợp đồng chuyển nhượng thửa đất nói trên thì không làm được vì ông Đ không có Giấy xác nhận nhân khẩu, mà trước đó chị đã thông báo cho anh D biết là phải có giấy này mới ký được hợp đồng chuyển nhượng. Sau đó, anh D có liên lạc với chị, đề nghị chờ đủ giấy tờ thì ký hợp đồng chuyển nhượng nhưng chị không đồng ý và yêu cầu trả tiền đặt cọc.

Nay chị khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc anh D trả lại cho chị số tiền 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng) đặt cọc và bồi thường 200.000.000đ (Hai trăm triệu đồng) như thỏa thuận trong hợp đồng đặt cọc.

Bị đơn là anh Nguyễn Tiến D có lời khai như sau:

Thông qua anh Nguyễn Hữu H ở cùng thôn, anh và chị Nguyễn Thu H mới gặp gỡ để thỏa thuận đặt cọc tiền đảm bảo cho việc anh chuyển nhượng thửa đất số 66 tờ bản đồ số 18 tại xóm 7, thôn Độ C, xã Đại Th, huyện Q, thành phố H. Ngày 21/3/2024 anh và chị H đã ký hợp đồng đặt cọc đúng như chị H trình bày. A đã nhận đủ số tiền chị H đặt cọc là 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng). Thời điểm hai bên ký hợp đồng đặt cọc, chị H biết rõ thửa đất trên vẫn đang đứng tên chủ sử dụng trong giấy chứng nhận quyền sử dụng là gia đình ông Nguyễn Văn Đ, biết anh đã đặt cọc số tiền 01 (một) tỷ đồng cho ông Đ để nhận chuyển nhượng thửa đất. A và ông Đ chưa ký hợp đồng chuyển nhượng, mục đích là chờ trong thời hạn anh đặt cọc nếu anh có khách mua thửa đất này thì sẽ làm thủ tục chuyển nhượng trực tiếp từ ông Đ cho khách đó. Sau khi anh làm đính chính về thông tin diện tích đất ở ghi trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo yêu cầu của chị H và chụp ảnh gửi cho chị H xem thì chị H lại thông báo là một phần diện tích của thửa đất nằm trong quy hoạch, bản thân anh cũng không biết việc này. Đến khi được cán bộ địa chính xã giải thích thì chị H cũng không có ý kiến gì nữa nhưng gần đến ngày hai bên đi ký hợp đồng chuyển nhượng (là ngày 06/4/2024) thì chị H lại thông báo về việc trên giấy chứng nhận ghi sai thông tin về tọa độ thửa đất. A cũng lại đi tham khảo những người biết về địa chính đất thì đều được nói là việc này không ảnh hưởng gì, vẫn tiến hành giao dịch được. Hơn nữa, nếu để quá thời hạn mà anh đã thỏa thuận trong hợp đồng đặt cọc với ông Đ thì anh sẽ mất số tiền đã đặt cọc nên anh bảo chị H vẫn đến văn phòng công chứng để ký hợp đồng chuyển nhượng thửa đất vào ngày 06/4/2024. A biết việc ký hợp đồng chuyển nhượng đất trong trường hợp này phải có giấy xác nhận nhân khẩu của gia đình ông Đ và đã thông báo cho ông Đ làm. Trước khi đi đến văn phòng công chứng để ký hợp đồng chuyển nhượng với chị H, anh đã hỏi ông Đ xem mang đủ giấy tờ hay chưa thì ông Đ nói đã mang đủ. Khi đến nơi, anh mới biết là ông Đ vẫn chưa có được giấy xác nhận nhân khẩu nên hôm đó không thể thực hiện được việc ký hợp đồng chuyển nhượng. Sau đó chị H đã đến công an xã và UBND xã Đại Th tố cáo anh lừa đảo (tố cáo miệng). Khi chị H đến văn phòng của anh yêu cầu trả lại tiền chị đã đặt cọc thì anh yêu cầu chị ấy phải đến những nơi mà chị ấy tố cáo anh nói rõ việc tố cáo không đúng thì anh mới đồng ý trả tiền đặt cọc và để cho anh thời gian khoảng 01 đến 1,5 tháng chuẩn bị tiền vì anh còn phải chuẩn bị tiền để thực hiện việc nhận chuyển nhượng thửa đất với ông Đ, nếu để quá hạn thì anh sẽ bị mất tiền đặt cọc mà chị H lại không đồng ý nhận chuyển nhượng nữa. Tuy nhên, sau đó chị H vẫn đến văn phòng của anh mắng nhiếc anh là cướp tiền của chị ngay cả khi anh đang làm việc với khách đến hỏi mua đất. Vì thế, anh mới không đồng ý trả lại tiền chị H đã đặt cọc. Nay chị H khởi kiện, anh cũng không đồng ý vì lỗi không ký tiếp được hợp đồng chuyển nhượng đất là do chị H. A không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả pháp lý khi hợp đồng vô hiệu.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn Đ trình bày:

Thửa đất số 66 tờ bản đồ số 18 tại xóm 7, thôn Độ C, xã Đại Th, huyện Q, thành phố H đã được UBND huyện Q, thành phố H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BT069400 ngày 12/5/2014 cho hộ gia đình ông gồm hai vợ chồng ông và hai người con. Do cần tiền nên ông và gia đình đã nhận đặt cọc của anh Nguyễn Tiến D số tiền 01 (một) tỷ đồng nhưng chưa làm thủ tục ký hợp đồng chuyển nhượng vì anh D nhờ ông khi anh có khách mua thửa đất này thì gia đình ông sẽ ký chuyển nhượng trực tiếp sang cho khách, ông cũng đồng ý. Ông không biết chị H là ai nhưng khi đến văn phòng công chứng để ký hợp đồng chuyển nhượng thửa đất cho khách của anh D thì ông mới nhớ người khách này chính là người mà trước đó đã đến tận nhà ông để xem thửa đất, hỏi ông về nguồn gốc thửa đất và còn nói với ông là mua đất này của anh D nhưng khi đó lại không xưng tên nên ông không biết tên của chị. Tại văn phòng công chứng hôm đó, ban đầu ông thấy cả anh D và chị H đều có thái độ bình thường nhưng không biết vì lí do gì mà sau đó hai bên lại xảy ra cãi nhau. Sau ngày ở văn phòng công chứng, chị H có liên hệ với ông nhờ ông dàn xếp để anh D trả lại cho chị tiền đặt cọc vì mua bán đất không thành. Tuy nhiên, ông thấy bản thân không có liên quan gì đến chị H và cũng không biết rõ mâu thuẫn giữa hai người nên ông không can thiệp. Ông xác định không có liên quan gì trong vụ án nên đề nghị được vắng mặt tại phiên tòa và không có yêu cầu gì.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Lê A Tuyên (chồng chị H) trình bày:

Việc đặt cọc để vợ chồng anh nhận chuyển nhượng thửa đất số 66 tờ bản đồ số 18 tại xóm 7, thôn Độ C, xã Đại Th, huyện Q, thành phố H đúng như vợ anh (chị H) đã trình bày. Ngày 21/3/2024, anh có đi cùng chị H đến gặp anh D để đặt cọc. Ngày 06/4/2024 anh và vợ đã đến Văn phòng công chứng v để ký hợp đồng nhận chuyển nhượng thửa đất trên nhưng giao dịch không thành công do bên bán không đủ điều kiện để làm thủ tục chuyển nhượng. Trước đó, toàn bộ quá trình thỏa thuận việc đặt cọc, chuyển nhượng đều do chị H thực hiện, anh không tham gia. Vì lý do sức khỏe, anh đồng ý giao cho chị H thực hiện mọi việc liên quan đến việc giải quyết về hợp đồng đặt cọc với anh D. A xin phép được vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ việc.

Tại phiên tòa:

- Chị H trình bày: đề nghị hủy Hợp đồng đặt cọc ngày 21/3/2024 giữa chị và anh Nguyễn Tiến D. Buộc anh D trả lại cho chị 100.000.000đ tiền đặt cọc và bồi thường hợp đồng 200.000.000đ.

-A D trình bày: Hiện đã quá thời gian để thực hiện nội dung trong hợp đồng đặt cọc nên không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng này. A không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- A Tuyên trình bày: A đồng ý với yêu cầu khởi kiện của chijHaf. Không có ý kiến nào khác.

- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã theo đúng quy định của pháp luật.

+ Về việc giải quyết vụ án:

Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 271 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng các Điều 116, 117, 122, 123, 131, 328; khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 167 và 188 Luật Đất đai năm 2013; Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thu H đối với anh Nguyễn Tiến D. Hủy Hợp đồng đặt cọc ngày 21/3/2024 về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa chị Nguyễn Thu H và anh Nguyễn Tiến D. Buộc anh Nguyễn Tiến D phải trả cho chị H 100.000.000 đồng tiền đặt cọc. Không chấp nhận yêu cầu của chị H về việc buộc anh D bồi thường 200.000.000đ Chị H và anh D phải chịu án phí theo quy định.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

- Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Thu H khởi kiện yêu cầu giải quyết tranh chấp hợp đồng đặt cọc đề ngày 21/3/2024 về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa chị với bị đơn anh Nguyễn Tiến D có địa chỉ thường trú ở xóm 6, thôn Độ C, xã Đại Th, huyện Q, Th phố H. Tòa án nhân dân huyện Q thụ lý giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là đúng quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn Đ đề nghị được vắng mặt. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2]. Về nội dung:

Hợp đồng đặt cọc đề ngày 21/3/2024 về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa chị Nguyễn Thu H với anh Nguyễn Tiến D được viết tay và không có ra công chứng, chứng thực tại cơ quan có thẩm quyền. Tuy nhiên, hợp đồng này không thuộc trường hợp bắt buộc phải có công chứng, chứng thực. Tại thời điểm ký Hợp đồng đặt cọc, các bên tham gia kí kết đều có đủ năng lực hành vi dân sự và việc giao kết xuất phát từ ý chí tự nguyện của các bên, không bị ép buộc. Mục đích của việc kí kết và đặt cọc là để đảm bảo cho việc giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 66 tờ bản đồ số 18 tại xóm 7, thôn Độ C, xã Đại Th, huyện Q, thành phố H. Thửa đất này đã được UBND huyện Q, Th phố H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BT069400 ngày 12/5/2014 cho hộ ông Nguyễn Văn Đ. Trong Hợp đồng đặt cọc có nêu giá trị chuyển nhượng quyền sử dụng đất, thời hạn đặt cọc, thời gian hoàn thành việc thanh toán tiền, trách nhiệm của các bên trong việc làm thủ tục sang tên, trách nhiệm và nghĩa vụ của các bên khi vi phạm hợp đồng,… Tại phần “Cam kết chung” của hợp đồng đặt cọc nêu: “Bên A (anh D) cam kết tài sản trên (tức thửa đất 66 tờ bản đồ số 18) thuộc quyền sở hữu của mình, có đầy đủ các giấy tờ liên quan để chứng minh…”. Tuy nhiên, chị H và anh D đều xác nhận tại thời điểm hai bên giao dịch đặt cọc thì thửa đất số 66 tờ bản đồ số 18 nói trên vẫn đứng tên chủ sử dụng đất là hộ ông Nguyễn Văn Đ. A D và ông Đ cũng xác nhận anh D mới chỉ đặt cọc cho ông Đ số tiền 01 (một) tỷ đồng để nhận chuyển nhượng thửa đất này nhưng hai bên chưa ký hợp đồng chuyển nhượng, chưa làm thủ tục sang tên cho anh D vì anh D nhờ ông khi anh có khách mua thì gia đình ông sẽ ký hợp đồng chuyển nhượng trực tiếp sang cho khách của anh. Như vậy, tại thời điểm chị H và anh D ký Hợp đồng đặt cọc ngày 21/3/2024 thì anh D chưa có quyền sử dụng đối với thửa đất nên không được thực hiện quyền chuyển nhượng theo quy định tại Điều 188 Luật đất đai 2013. Việc chị H và anh D ký hợp đồng đặt cọc để đảm bảo việc anh D chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 66 tờ bản đồ số 18 là không đúng quy định của pháp luật dẫn đến hợp đồng vô hiệu theo quy định tại Điều 123 Bộ luật dân sự 2015. Do giao dịch đặt cọc vô hiệu nên các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H về việc buộc anh D trả lại số tiền 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng) mà chị đã đặt cọc theo Hợp đồng đặt cọc giữa hai bên ký ngày 21/3/2024. Nguyên nhân dẫn đến hợp đồng vô hiệu là do lỗi chủ quan của cả hai bên nên không phạt cọc, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của chị H về việc buộc anh D phải bồi thường số tiền 200.000.000đ (Hai trăm triệu đồng).

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[3]. Về án phí: Do nguyên đơn được chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện nên bị đơn phải chịu 5.000.000đ (Năm triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận. Chị H phải chịu 10.000.000đ (Mười triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với phần yêu cầu bồi thường không được chấp nhận, được trừ vào số tiền 2.500.000đ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp. Chị H còn phải nộp tiếp số tiền 7.500.000đ (Bảy triệu năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 271 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 116, 117, 122, 123, 131, 328 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 167 và 188 Luật đất đai 2013; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thu H đối với anh Nguyễn Tiến D.

- Hủy Hợp đồng đặt cọc đề ngày 21/3/2024 về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa chị Nguyễn Thu H và anh Nguyễn Tiến D. Buộc anh Nguyễn Tiến D phải trả lại cho chị Nguyễn Thu H số tiền đặt cọc 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng).

- Không chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thu H về việc buộc anh Nguyễn Tiến D bồi thường số tiền 200.000.000đ (Hai trăm triệu đồng).

2. Về án phí: A Nguyễn Tiến D phải chịu 5.000.000đ (Năm triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Chị Nguyễn Thu H phải chịu 10.000.000đ (Mười triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền 2.500.000đ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010008 ngày 13/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Q, thành phố H. Chị H còn phải nộp tiếp số tiền 7.500.000đ (Bảy triệu năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

4. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, Hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với thời gian chậm thi hành án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

150
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp hợp đồng đặt cọc số 112/2024/DS-ST

Số hiệu:112/2024/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Phú Xuyên - Hà Nội
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:20/08/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về