Bản án về tranh chấp hợp đồng đặt cọc số 08/2024/DS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH

BẢN ÁN 08/2024/DS-ST NGÀY 06/03/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG ĐẶT CỌC

Ngày 06 tháng 3 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 57/2023/TLST-DS ngày 23/10/2023; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2024/QĐXXST-DS ngày 25/01/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2024/QĐST-TCDS ngày 20/02/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Đức B, địa chỉ: đường số H, phường MS, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, có mặt.

Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Trương Thị Ly N, địa chỉ: B chung cư H, 72 H, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt do người ủy quyền chấm dứt ủy quyền.

- Bị đơn: Công ty TNHH F Q BG Resort; địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Văn H - Chủ tịch Công ty; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Minh Đ, địa chỉ: Tầng B, Tòa nhà F, ngõ 5 L, phường M, quận N, Thành phố Hà Nội theo Văn bản ủy quyền số 111/GUQ-CTCT ngày 28/12/2023, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty Cổ phần Tập đoàn F;

Địa chỉ: Tầng 29 Tòa nhà B, đường C, phường D, quận C, Thành phố Hà Nội;

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Tiến D, chức vụ: Tổng Giám đốc, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 29/8/2023, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Đức B trình bày: Ngày 21/8/2018, sau khi được Công ty TNHH F Q BG Resort (Sau đây gọi là “Công ty F Q”) giới thiệu, cam kết là đơn vị tư vấn, môi giới và độc quyền tổ chức phân phối bất động sản shophouse (đã bao gồm giá trị quyền sử dụng đất và giá trị cọc móng) thuộc dự án Trung tâm Hội Nghị, khách sạn, du lịch nghỉ dưỡng và biệt thự nghỉ dưỡng F Q tại xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình do Công ty Cổ phần Tập đoàn F đầu tư, đồng thời cũng là Công ty mẹ sở hữu 100% vốn tại Công ty F Q. Ông Nguyễn Đức B đã ký văn bản thỏa thuận số I-SH.56.09/2018/VBTT/FQUANGBINH cùng các hồ sơ đính kèm với Công ty F Q và đã đóng tổng số tiền là 416.825.600 đồng (Bằng chữ: Bốn trăm mười sáu triệu, tám trăm hai mươi lăm nghìn, sáu trăm đồng) với cam kết đến tháng 04/2019 ký hợp đồng mua bán.

Tuy nhiên đến tháng 04/2019, ông Nguyễn Đức B vẫn chưa được ký hợp đồng mua bán, sau khi tìm hiểu thì được biết Dự án trên chưa đủ điều kiện để bán theo quy định. Từ năm 2020, ông B đã gửi Đơn tố cáo đến Thủ tướng và cơ quan có thẩm quyền về việc F Q đã có hành vi lừa dối khách hàng trong việc ký kết Văn Bản Thỏa Thuận, thực hiện việc rao bán các sản phẩm bất động sản khi chưa đủ điều kiện theo quy định. Vì sợ ảnh hưởng đến tình hình thực hiện dự án, lãnh đạo Công ty F mà cụ thể lúc đó là ông Lê Đức B đồng ý thanh lý văn bản thỏa thuận và hoàn trả lại tiền đã đóng sau khi trừ các phí là 393.900.192 đồng (Ba trăm chín mươi ba triệu, chín trăm nghìn, một trăm chín mươi hai đồng) để đổi lại ông B rút đơn tố cáo đã gửi đi khắp nơi.

Ngày 25/01/2022, hai bên đã ký biên bản thanh lý văn bản thỏa thuận, theo đó tiến độ thanh toán như sau:

- Đợt 1: 65.000.000 đồng thanh toán chậm nhất ngày 05/9/2022;

- Đợt 2: 65.000.000 đồng thanh toán chậm nhất ngày 05/10/2022;

- Đợt 3: 65.000.000 đồng thanh toán chậm nhất ngày 05/11/2022;

- Đợt 4: 65.000.000 đồng thanh toán chậm nhất ngày 05/12/2022;

- Đợt 5: 65.000.000 đồng thanh toán chậm nhất ngày 05/01/2023;

- Đợt 6: 68.900.192 đồng thanh toán chậm nhất ngày 05/02/2023.

Tuy nhiên kể từ thời điểm ký Biên bản thanh lý đến nay, ông Nguyễn Đức B chưa nhận được bất cứ khoản thanh toán nào của Công ty F Q.

Sau nhiều lần liên hệ phía Công ty F Q không có bấy cứ phản hồi và thanh toán như đã hẹn. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của ông Bình. Đề nghị Tòa án giải quyết buộc Công ty TNHH F Q BG Resort và Công ty Cổ phần tập đoàn F phải thanh toán hoàn trả đầy đủ cho ông Nguyễn Đức B theo biên bản thanh lý văn bản thoả thuận số tiền 393.900.192 đồng (Ba trăm chín mươi ba triệu, chín trăm nghìn, một trăm chín mươi hai đồng).

Tại bản tự khai ngày 28 tháng 12 năm 2023 quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn - ông Nguyễn Minh Đtrình bày: Ngày 21/8/2018, ông Nguyễn Đức B và Công ty TNHH F Q BG Resort ký kết “Văn bản thỏa thuận” số I-SH.56.09/2018/VBTT/FQUANGBINH về việc giới thiệu, tư vấn và hỗ trợ cho ông Nguyễn Đức B mua bất động sản I-SH. 56.09 với phí dịch vụ là 208.412.800 đồng.

Sau khi ký Văn bản thỏa thuận, đến ngày 25/01/2022, ông Nguyễn Đức B và Công ty TNHH F Q BG Resort đã ký Biên bản thanh lý Văn bản thỏa thuận về việc thanh lý Văn bản thỏa thuận số I-SH.56.09/2018/VBTT/FQUANGBINH theo đó Công ty TNHH F Q BG Resort sẽ hoàn trả cho ông Nguyễn Đức B số tiền 393.900.192 đồng.

Đối với yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn yêu cầu Công ty TNHH F Q BG Resort thanh toán toàn bộ số tiền theo Biên bản thanh lý Văn bản thỏa thuận số I-SH.56.09/2018/VBTT/FQUANGBINH: Do tình hình tài chính khó khăn, Công ty TNHH F Q BG Resort sẽ cố gắng có phương án thanh toán dần số tiền trên.

Trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện của Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Công ty Cổ phần Tập đoàn F đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt.

Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện buộc Công ty TNHH F Q BEACH&GOLF RESORT thanh toán cho ông Nguyễn Đức B số tiền 393.900.192 đồng (Ba trăm chín mươi ba triệu, chín trăm nghìn, một trăm chín mươi hai đồng), không yêu cầu tính lãi; rút một phần yêu cầu Công ty cổ phần Tập đoàn F có trách nhiệm liên đới thanh toán số tiền trên. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Đây là tranh chấp về hợp đồng đặt cọc là tranh chấp về dân sự, bị đơn có trụ sở tại thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.

[2] Về nội dung: Căn cứ vào Văn bản thoả thuận số I- SH.56.09/2018/VBTT/FQUANGBINH giữa ông Nguyễn Đức B với Công ty TNHH F Q BG Resort (gọi tắt Công ty F Q) về việc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thuộc lô đất số I-SH. 56.09 của dự án F Q BG Resort tại địa chỉ xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Để thực hiện cho Văn bản thỏa thuận nói trên ông Bình đã nộp cho Công ty F Q số tiền 416.825.600 đồng. Đến ngày 25/01/2022, ông Nguyễn Đức B và Công ty F Q thống nhất ký Biên bản thanh lý văn bản thỏa thuận I-SH.56.09/2018/VBTT/FQUANGBINH và giải quyết tất cả các vấn đề pháp lý phát sinh, với những nội dung chính như sau:

Các bên thống nhất chấm dứt hiệu lực của Văn bản thỏa thuận số I- SH.56.09/2018/VBTT/FQUANGBINH kể từ ngày 25/01/2022.

Tổng số tiền mà bên công ty F Q phải hoàn trả cho ông Nguyễn Đức B sau khi trừ đi khoản tiền đặt cọc giữ lại theo quy định tại Điều 1.2.2 của biên bản này là 393.900.192 đồng. Thời gian hoàn trả: Công ty F Q thực hiện hoàn trả cho ông Nguyễn Đức B trong vòng 12 tháng làm việc kể từ ngày ký biên bản, cụ thể:

Đợt 1: Công ty F Q sẽ trả cho ông Nguyễn Đức B số tiền 65.000.000 đồng, thanh toán chậm nhất ngày 05/9/2022;

Đợt 2: Công ty F Q sẽ trả cho ông Nguyễn Đức B số tiền 65.000.000 đồng, thanh toán chậm nhất ngày 05/10/2022;

Đợt 3: Công ty F Q sẽ trả cho ông Nguyễn Đức B số tiền 65.000.000 đồng, thanh toán chậm nhất ngày 05/11/2022;

Đợt 4: Công ty F Q sẽ trả cho ông Nguyễn Đức B số tiền 65.000.000 đồng, thanh toán chậm nhất ngày 05/12/2022;

Đợt 5: Công ty F Q sẽ trả cho ông Nguyễn Đức B số tiền 65.000.000 đồng, thanh toán chậm nhất ngày 05/01/2023;

Đợt 6: Công ty F Q sẽ trả cho ông Nguyễn Đức B số tiền 68.900.192 đồng, thanh toán chậm nhất ngày 05/02/2023.

Kể từ thời điểm ký Biên bản thanh lý đến nay, ông B vẫn chưa nhận được bất cứ khoản thanh toán nào của Công ty F Q theo như thời gian hoàn trả đã thỏa thuận.

Hội đồng xét xử xét thấy lỗi hoàn toàn thuộc về Công ty TNHH F Q BEACH&GOLF RESORT. Do đó, có cơ sở để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Đức Bình; buộc Công ty TNHH F Q BEACH&GOLF RESORT phải có trách nhiệm thanh toán cho ông Nguyễn Đức B số tiền 393.900.192 đồng (Ba trăm chín mươi ba triệu, chín trăm nghìn, một trăm chín mươi hai đồng).

Tại phiên tòa, nguyên đơn rút yêu cầu về việc buộc Công ty cổ phần Tập đoàn F thanh toán số tiền theo Biên bản thanh lý văn bản thỏa thuận nên HĐXX đình chỉ một phần yêu cầu của nguyên đơn.

[3] Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật, trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp cho nguyên đơn.

[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 271, Điều 228, Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các điều 275, 328, 351 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Đức B.

Xử buộc Công ty TNHH F Q BG Resort phải có trách nhiệm thanh toán cho ông Nguyễn Đức B số tiền 393.900.192 đồng (Ba trăm chín mươi ba triệu, chín trăm nghìn, một trăm chín mươi hai đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Đình chỉ yêu cầu buộc Công ty cổ phần Tập đoàn F thanh toán số tiền theo Văn bản thanh lý Văn bản thỏa thuận giữa Công ty TNHH F Q BG Resort và ông Nguyễn Đức Bình.

2. Về án phí dân sự: Buộc Công ty TNHH F Q BG Resort phải chịu 19.695.009 đồng (Mười chín triệu sáu trăm chín mươi lăm nghìn không trăm linh chín đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Trả lại cho ông Nguyễn Đức B 9.847.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số: 31AA/2021/0004175 ngày 19/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Ninh.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

52
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp hợp đồng đặt cọc số 08/2024/DS-ST

Số hiệu:08/2024/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Quảng Ninh - Quảng Bình
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 06/03/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về