Bản án về tranh chấp hợp đồng đặt cọc số 07/2024/DS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH

BẢN ÁN 07/2024/DS-ST NGÀY 06/03/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG ĐẶT CỌC

Ngày 06 tháng 3 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 51/2023/TLST-DS ngày 13/10/2023; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2024/QĐXXST-DS ngày 25/01/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2024/QĐST-TCDS ngày 20/02/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị H, sinh năm 1994; địa chỉ: 260 L, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng;

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Lê Thị L, địa chỉ: Thôn T, xã S, huyện L, tỉnh Quảng Bình theo văn bản ủy quyền lập ngày 31/10/2023, có mặt.

- Bị đơn: Công ty TNHH F Quảng Bình BG; địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Văn H - Chủ tịch Công ty; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Minh Đ, địa chỉ: Tầng B, Tòa nhà F L, ngõ N Lê Đức T, phường M, quận N, Thành phố Hà Nội theo Văn bản ủy quyền số 110/GUQ-CTCT ngày 28/12/2023, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty Cổ phần Tập đoàn F;

Địa chỉ: Tầng 29 Tòa nhà B, số 265 đường C, phường D, quận C, Thành phố Hà Nội;

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Tiến D, chức vụ: Tổng Giám đốc, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 20/8/2023, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bà Lê Thị L là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Ngày 02/5/2018, sau khi được Công ty TNHH F Q BG (Sau đây gọi là “Công ty F Q”) giới thiệu, cam kết là đơn vị tư vấn, môi giới và độc quyền tổ chức phân phối bất động sản shophouse (đã bao gồm giá trị quyền sử dụng đất và giá trị cọc móng) thuộc dự án Trung tâm Hội Nghị, khách sạn, du lịch nghỉ dưỡng và biệt thự nghỉ dưỡng F Q tại xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình do Công ty Cổ phần Tập đoàn F đầu tư, đồng thời cũng là Công ty mẹ sở hữu 100% vốn tại Công ty F Quảng Bình.

Bà Lê Thị H đã ký văn bản thỏa thuận số III-SH.10.08/2018/VBTT/FQUANGBINH cùng các hồ sơ đính kèm với Công ty F Q và đã đóng tổng số tiền là 1.033.197.120 VNĐ (Một tỷ, không trăm ba mươi ba triệu, một trăm chín mươi bảy nghìn, một trăm hai mươi đồng) với cam kết đến tháng 11/2018 ký hợp đồng mua bán.

Tuy nhiên, đến tháng 11/2018, bà Lê Thị H vẫn chưa được ký hợp đồng mua bán, sau khi tìm hiểu thì được biết Dự án trên chưa đủ điều kiện để bán theo quy định. Từ năm 2020, bà H đã gửi Đơn tố cáo đến Thủ tướng và cơ quan có thẩm quyền về việc F Q đã có hành vi lừa dối khách hàng trong việc ký kết Văn Bản Thỏa Thuận, thực hiện việc rao bán các sản phẩm bất động sản khi chưa đủ điều kiện theo quy định. Vì sợ ảnh hưởng đến tình hình thực hiện dự án, lãnh đạo Công ty F mà cụ thể lúc đó là bà Hồ Thị H1 đồng ý thanh lý văn bản thỏa thuận và hoàn trả lại tiền đã đóng sau khi trừ các phí là 990.577.739 đồng (chín trăm chín mươi triệu năm trăm bảy mươi bảy nghìn bảy trăm ba mươi chín đồng) để đổi lại bà H rút đơn tố cáo đã gửi đi khắp nơi.

Ngày 25/01/2022, hai bên đã ký biên bản thanh lý văn bản thỏa thuận, theo đó tiến độ thanh toán như sau:

- Đợt 1: 165.000.000 VNĐ thanh toán chậm nhất ngày 05/9/2022;

- Đợt 2: 165.000.000 VNĐ thanh toán chậm nhất ngày 05/10/2022;

- Đợt 3: 165.000.000 VNĐ thanh toán chậm nhất ngày 04/11/2022;

- Đợt 4: 165.000.000 VNĐ thanh toán chậm nhất ngày 04/12/2022;

- Đợt 5: 165.000.000 VNĐ thanh toán chậm nhất ngày 03/01/2023;

- Đợt 6: 165.577.739 VNĐ thanh toán chậm nhất ngày 02/02/2023.

Tuy nhiên, kể từ thời điểm ký Biên bản thanh lý đến nay, bà Lê Thị H chưa nhận được bất cứ khoản thanh toán nào của Công ty F Q.

Sau nhiều lần liên hệ phía Công ty F Q không có bất cứ phản hồi và thanh toán như đã hẹn. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bà H, đề nghị Tòa án giải quyết buộc Công ty TNHH F Q BG và Công ty cổ phần Tập đoàn F phải thanh toán hoàn trả đầy đủ cho bà Lê Thị H theo biên bản thanh lý văn bản thoả thuận số tiền 990.577.739 đồng (chín trăm chín mươi triệu năm trăm bảy mươi bảy nghìn bảy trăm ba mươi chín đồng).

Tại bản tự khai ngày 28 tháng 12 năm 2023 quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn - ông Nguyễn Minh Đ trình bày: Ngày 02/5/2018, bà Lê Thị H và Công ty TNHH F Q BG ký kết “Văn bản thỏa thuận” số I-SH.10.08/2018/VBTT/FQUANGBINH về việc giới thiệu, tư vấn và hỗ trợ cho bà Lê Thị H mua bất động sản I-SH. 10.08 với phí dịch vụ là 387.448.920 đồng.

Sau khi ký Văn bản thỏa thuận, đến ngày 25/01/2022, bà Lê Thị H và Công ty TNHH F Q BG đã ký Biên bản thanh lý Văn bản thỏa thuận về việc thanh lý Văn bản thỏa thuận số I-SH.10.08/2018/VBTT/FQUANGBINH theo đó Công ty TNHH F Q BG sẽ hoàn trả cho bà Lê Thị H số tiền 990.577.739 đồng.

Đối với yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn yêu cầu Công ty TNHH F Q BG thanh toán toàn bộ số tiền theo Biên bản thanh lý Văn bản thỏa thuận số I-SH.10.08/2018/VBTT/FQUANGBINH: Do tình hình tài chính khó khăn, Công ty TNHH F Q BG sẽ cố gắng có phương án thanh toán dần số tiền trên.

Trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện của Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Công ty Cổ phần Tập đoàn F đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt.

Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện buộc Công ty TNHH F Q BG thanh toán cho bà Lê Thị H số tiền 990.577.739 đồng (chín trăm chín mươi triệu năm trăm bảy mươi bảy nghìn bảy trăm ba mươi chín đồng), không yêu cầu tính lãi; rút một phần yêu cầu Công ty cổ phần Tập đoàn F có trách nhiệm thanh toán số tiền trên. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Đây là tranh chấp về hợp đồng đặt cọc là tranh chấp về dân sự, bị đơn có trụ sở tại thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.

[2] Về nội dung: Căn cứ vào Văn bản thoả thuận số III- SH.10.08/2018/VBTT/FQUANGBINH giữa bà Lê Thị H với Công ty TNHH F Q BG (gọi tắt Công ty F Q) về việc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thuộc lô đất số I-SH.10.08 của dự án F Q BG tại địa chỉ xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Để thực hiện cho Văn bản thỏa thuận nói trên bà H đã nộp cho Công ty F Q số tiền 990.577.739 đồng, đến ngày 25/01/2022, bà Lê Thị H và Công ty F Q thống nhất ký Biên bản thanh lý văn bản thỏa thuận I- SH.10.08/2018/VBTT/FQUANGBINH và giải quyết tất cả các vấn đề pháp lý phát sinh, với những nội dung chính như sau:

Các bên thống nhất chấm dứt hiệu lực của Văn bản thỏa thuận số I- SH.10.08/2018/VBTT/FQUANGBINH kể từ ngày 25/01/2022.

Tổng số tiền mà bên Công ty F Q phải hoàn trả cho bà Lê Thị H sau khi trừ đi khoản tiền đặt cọc giữ lại theo quy định tại Điều 1.2.2 của biên bản này là 990.577.739 đồng. Thời gian hoàn trả: Công ty F Q thực hiện hoàn trả cho bà Lê Thị H trong vòng 12 tháng làm việc kể từ ngày ký biên bản, cụ thể:

Đợt 1: Công ty F Q sẽ trả cho bà Lê Thị H số tiền 165.000.000 đồng, thanh toán chậm nhất ngày 05/9/2022.

Đợt 2: Công ty F Q sẽ trả cho bà Lê Thị H số tiền 165.000.000 đồng, thanh toán chậm nhất ngày 05/10/2022.

Đợt 3: Công ty F Q sẽ trả cho bà Lê Thị H số tiền 165.000.000 đồng, thanh toán chậm nhất ngày 04/11/2022.

Đợt 4: Công ty F Q sẽ trả cho bà Lê Thị H số tiền 165.000.000 đồng, thanh toán chậm nhất ngày 04/12/2022.

Đợt 5: Công ty F Q sẽ trả cho bà Lê Thị H số tiền 165.000.000 đồng, thanh toán chậm nhất ngày 03/01/2023.

Đợt 6: Công ty F Q sẽ trả cho bà Lê Thị H số tiền 165.577.739 đồng, thanh toán chậm nhất ngày 02/02/2023.

Kể từ thời điểm ký Biên bản thanh lý đến nay, bà H vẫn chưa nhận được bất cứ khoản thanh toán nào của Công ty F Q theo như thời gian hoàn trả đã thỏa thuận.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy lỗi hoàn toàn thuộc về Công ty TNHH F Q BG. Do đó Công ty TNHH F Q BG phải có trách nhiệm thanh toán cho bà Lê Thị H số tiền 990.577.739 đồng, nguyên đơn không yêu cầu tính lãi nên HĐXX không xem xét.

Tại phiên tòa, nguyên đơn rút yêu cầu về việc buộc Công ty cổ phần Tập đoàn F thanh toán số tiền theo Biên bản thanh lý văn bản thỏa thuận nên HĐXX đình chỉ một phần yêu cầu của nguyên đơn.

[3] Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật, trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp cho nguyên đơn.

[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 271, Điều 228, 244 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các điều 275, 328, 351 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị H.

Xử buộc Công ty TNHH F Q BG phải có trách nhiệm thanh toán cho bà Lê Thị H số tiền 990.577.739 đồng (Chín trăm chín mươi triệu năm trăm bảy mươi bảy nghìn bảy trăm ba mươi chín đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Đình chỉ yêu cầu buộc Công ty cổ phần Tập đoàn F thanh toán số tiền theo Văn bản thanh lý Văn bản thỏa thuận giữa Công ty TNHH F Q BG và bà Lê Thị H.

2. Về án phí dân sự: Buộc Công ty TNHH F Q BG phải chịu 41.717.332 đồng (Bốn mươi mốt triệu bảy trăm mười bảy nghìn ba trăm ba mươi hai đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Trả lại cho bà Lê Thị H 21.811.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số: 31AA/2021/0004169 ngày 13/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Ninh.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dận sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi 5 hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

56
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp hợp đồng đặt cọc số 07/2024/DS-ST

Số hiệu:07/2024/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Quảng Ninh - Quảng Bình
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 06/03/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về
Năm 2018, bà H đóng 1,033 tỷ đồng cho Công ty F Quảng Bình để mua shophouse tại dự án của Công ty Cổ phần Tập đoàn F. Tuy nhiên, đến năm 2022, thỏa thuận mua bán bị thanh lý và Công ty F Quảng Bình cam kết hoàn trả bà H 990 triệu đồng.

Theo biên bản thanh lý thỏa thuận, Công ty F Quảng Bình phải hoàn trả 990 triệu đồng cho bà H trong vòng 12 tháng, chia làm 6 đợt thanh toán. Tuy nhiên, từ khi ký biên bản đến nay, bà H vẫn chưa nhận được bất kỳ khoản thanh toán nào.

Tòa án nhận định lỗi hoàn toàn thuộc về Công ty F Quảng Bình. Do đó, Công ty F Quảng Bình phải thanh toán cho bà H 990 triệu đồng theo biên bản thanh lý. Đối với yêu cầu buộc Công ty Cổ phần Tập đoàn F cùng thanh toán, Tòa án đình chỉ vì nguyên đơn đã rút yêu cầu này.

Tòa án quyết định buộc Công ty F Quảng Bình phải thanh toán cho bà H 990 triệu đồng, cộng với tiền lãi phát sinh (nếu có). Công ty F Quảng Bình cũng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và trả lại tiền tạm ứng án phí cho bà H. Các bên có quyền kháng cáo theo quy định.