TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIÊN LƯƠNG, TỈNH KIÊN GIANG
BẢN ÁN 127/2024/DS-ST NGÀY 30/09/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG DÂN SỰ VAY TÍN DỤNG
Trong hai ngày 27 và ngày 30 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kiên Lương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 249/2024/TLST-DS ngày 13 tháng 6 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng dân sự về vay tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 148/2024/QĐXXST-DS, ngày 11 tháng 9 năm 2024 giữa:
1/ Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần K Địa chỉ: Số D - D - D, đường P, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
Đại diện theo Pháp luật: Ông Trần Ngọc M, chức vụ: Tổng Giám đốc
Đại diện theo ủy quyền: Ông Bùi Quang T, chức vụ: Giám đốc Ngân hàng thương mại cổ phần K - Chi nhánh R - Phòng G.
Đại diện theo giấy ủy quyền lại: Ông Trịnh Văn H, sinh năm 1967, Chức vụ: Công tác viên tín dụng Ngân hàng thương mại cổ phần K (có mặt).
Địa chỉ: Tổ A, ấp C, xã K, huyện K, tỉnh Kiên Giang.
2/ Bị đơn:
2.1/ Ông Lưu Hùng C, sinh năm 1981 (có đơn xét xử vắng mặt).
2.2/ Bà Lê Thị Thúy H1, sinh năm 1985 (có đơn xét xử vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Tổ C, ấp L, xã K, huyện K, tỉnh Kiên Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa của đại diện nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần K - ông Trịnh Văn H trình bày: Ngày 13/01/2023 Ngân hàng thương mại cổ phần K có ký hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng cầm cố số A1414048/HĐTD-CC với ông Lưu Hùng C, bà Lê Thị Thúy H1 cho vay số tiền 20.000.000đ, lãi suất trong hạn: 18%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay. Thời hạn vay: 180 ngày (từ ngày 13/01/2023 đến ngày 13/7/2023). Mục đích vay: tiêu dùng; Hình thức thanh toán: Trả gốc lãi hàng ngày, mỗi ngày là 120.973đồng.
Ngoài ra, ông C bà H1 còn cầm cố tài sản bảo đảm nợ vay là 01 xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu HONDA, màu đen - xám, số khung: 4314BY101232, số máy: C43-1651110, Biển kiểm soát số 68K5-1xxx theo giấy đăng ký xe mô tô gắn máy số 005853 được Công an huyện K cấp ngày 19/4/2011 do bà Lê Thị Thúy H1 đứng tên.
Quá trình vay vốn, ông C bà H1 đã không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán nợ gốc, lãi cho Ngân hàng theo hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng cầm cố và Ngân hàng đã nhắc nhở ông C bà H1 nhiều lần nhưng ông C bà H1 vẫn không thực hiện đúng với hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng cầm cố.
Nay đại diện nguyên đơn yêu cầu ông Lưu Hùng C, bà Lê Thị Thúy H1 phải trả nợ vay gốc lãi số tiền 22.844.724đ (Trong đó, nợ gốc là 16.111.150đ, lãi trong hạn là 1.430.137đ, lãi quá hạn là 5.303.437đ, lãi tạm tính đến ngày 30/9/2024) cho Ngân hàng thương mại cổ phần K. Tại phiên tòa nguyên đơn có đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện về yêu cầu xử lý tài sản cầm cố.
Theo ý kiến bà Lê Thị Thúy H1 trình bày: Bà H1 thừa nhận có vay tiền của Ngân hàng thương mại cổ phần K và đến nay còn nợ số tiền 20.961.464đ. Do hiện nay bà đang nghỉ thai sản và con còn nhỏ không thể đi làm để có tiền trả nợ vay cho Ngân hàng một lần và bà xin trả chậm mỗi tháng 2.000.000đ cho đến khi hết nợ vay cho Ngân hàng.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Thư ký trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và Hội đồng xét xử tại phiên tòa là đúng trình tự quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và buộc ông Lưu Hùng C, bà Lê Thị Thúy H1 trả nợ vay gốc lãi số tiền 22.844.724đ (Trong đó, nợ gốc là 16.111.150đ, lãi trong hạn là 1.430.137đ, lãi quá hạn là 5.303.437đ, lãi tạm tính đến ngày 30/9/2024) cho Ngân hàng thương mại cổ phần K. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về yêu cầu xử lý tài sản cầm cố. Ngoài ra đề nghị Hội đồng xét xử xem xét án phí dân sự sơ thẩm và các vấn đề khác theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Lưu Hùng C và bà Lê Thị Thúy H1 có đơn xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 01 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử.
[2] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn ông Lưu Hùng C, bà Lê Thị Thúy H1 có nơi cư trú tại: Tổ C, ấp L, xã K, huyện K, tỉnh Kiên Giang. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang. Đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng dân sự về vay tín dụng” được quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Về nội dung vụ án: Ngày 13/01/2023 Ngân hàng thương mại cổ phần K có ký hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng cầm cố số A1414048/HĐTD-CC với ông Lưu Hùng C, bà Lê Thị Thúy H1 cho vay số tiền 20.000.000đ, lãi suất trong hạn: 18%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay. Thời hạn vay: 180 ngày (từ ngày 13/01/2023 đến ngày 13/7/2023). Mục đích vay: tiêu dùng; Hình thức thanh toán: Trả gốc lãi hàng ngày, mỗi ngày là 120.973 đồng. Ngoài ra, ông C bà H1 còn cầm cố tài sản bảo đảm nợ vay là 01 xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu HONDA, màu đen - xám, số khung: 4314BY101232, số máy: C43-1651110, Biển kiểm soát số 68K5-1xxx theo giấy đăng ký xe mô tô gắn máy số 005853 được Công an huyện K cấp ngày 19/4/2011 do bà Lê Thị Thúy H1 đứng tên.
Nay Đại diện nguyên đơn yêu cầu ông Lưu Hùng C, bà Lê Thị Thúy H1 phải trả nợ vay gốc lãi số tiền 22.844.724đ (Trong đó, nợ gốc là 16.111.150đ, lãi trong hạn là 1.430.137đ, lãi quá hạn là 5.303.437đ, lãi tạm tính đến ngày 30/9/2024) cho Ngân hàng thương mại cổ phần K và nguyên đơn có đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện về yêu cầu xử lý tài sản cầm cố.
[4] Xét về yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả tiền nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm (30/9/2024) là 22.844.724đ, Hội đồng xét xử nhận thấy, căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở xác định do bị đơn không thanh toán đầy đủ cho Ngân hàng thương mại cổ phần K là đã vi phạm thỏa thuận giữa các bên, đến nay hợp đồng vay tín dụng kiêm hợp đồng cầm cố đã hết thời hạn cho vay, bị đơn phải có nghĩa vụ trả nợ gốc lãi cho nguyên đơn. Do đó, Hội đồng xét xử buộc ông C bà H1 phải có nghĩa vụ trả nợ vay tín dụng gốc lãi số tiền 22.844.724đ (Trong đó, nợ gốc là 16.111.150đ, lãi trong hạn là 1.430.137đ, lãi quá hạn là 5.303.437đ, lãi tạm tính đến ngày 30/9/2024) cho Ngân hàng thương mại cổ phần K là phù hợp với quy định tại Điều 463, Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 103 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2024.
[5] Về tiền lãi: Theo thỏa thuận của hợp đồng thì ông C bà H1 phải thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần K nợ gốc và lãi theo cách tính lãi quy định tại hợp đồng, do ông C bà H1 không thực hiện nên Ngân hàng thương mại cổ phần K chuyển toàn bộ số tiền nợ còn lại thành nợ quá hạn và tính lãi theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng, lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Tiền lãi phát sinh ông C bà H1 còn nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm 30/9/2024 là 6.733.574đ (gồm lãi trong hạn và lãi quá hạn), được thể hiện theo “Bảng kê tính lãi tính đến ngày 30/9/2024” của nguyên đơn cung cấp là phù hợp với quy định tại Điều 100 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2024.
[6] Xét về việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn tiếp tục trả tiền lãi phát sinh từ sau ngày 30/9/2024 là ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi trả hết số nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng. Xét thấy yêu cầu này của nguyên đơn là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn.
[7] Về cầm cố tài sản: Ngày 13/01/2023 Ngân hàng thương mại cổ phần K có ký hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng cầm cố số A1414048/HĐTD-CC với ông Lưu Hùng C bà Lê Thị Thúy H1 là 01 xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu HONDA, màu đen - xám, số khung: 4314BY101232, số máy: C43-1651110, Biển kiểm soát số 68K5-1xxx theo giấy đăng ký xe mô tô gắn máy số 005853 được Công an huyện K cấp ngày 19/4/2011 do bà Lê Thị Thúy H1 đứng tên. Tại phiên tòa đại diện nguyên đơn không yêu cầu xem xét và đã có đơn xin rút một phần yêu cầu Hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng cầm cố về tài sản cầm nêu trên. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn và không xem xét đến tài sản cầm cố nêu trên.
Như vậy, Hội đồng xét xử chấp yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và buộc vợ chồng ông C bà H1 phải có nghĩa vụ trả nợ gốc lãi số tiền 22.844.724đ (Trong đó, nợ gốc là 16.111.150đ, lãi trong hạn là 1.430.137đ, lãi quá hạn là 5.303.437đ, lãi tạm tính đến ngày 30/9/2024) cho Ngân hàng thương mại cổ phần K.
Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về yêu cầu xử lý tài sản cầm cố là 01 xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu HONDA, màu đen - xám, số khung: 4314BY101232, số máy: C43-1651110, Biển kiểm soát số 68K5-1xxx theo giấy đăng ký xe mô tô gắn máy số 005853 được Công an huyện K cấp ngày 19/4/2011 do bà Lê Thị Thúy H1 đứng tên.
[8] Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm được giải quyết theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Áp dụng: Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 100; Điều 103 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024. Tuyên xử:
1/ Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần K.
Buộc ông C bà H1 phải có nghĩa vụ trả nợ gốc lãi số tiền 22.844.724đ (Trong đó, nợ gốc là 16.111.150đ, lãi trong hạn là 1.430.137đ, lãi quá hạn là 5.303.437đ, lãi tạm tính đến ngày 30/9/2024) cho Ngân hàng thương mại cổ phần K.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm trả số tiền nêu trên, thì người phải thi hành án còn phải trả cho người được thi hành án số tiền lãi theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng cầm cố số : A1414048/HĐTD-CC tương ứng với số tiền nợ gốc và thời gian chưa thanh toán.
Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về yêu cầu xử lý tài sản cầm cố là 01 xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu HONDA, màu đen - xám, số khung: 4314BY101232, số máy: C43-1651110, Biển kiểm soát số 68K5-1xxx theo giấy đăng ký xe mô tô gắn máy số 005853 được Công an huyện K cấp ngày 19/4/2011 do bà Lê Thị Thúy H1 đứng tên.
2/ Về án phí: Áp dụng Điều 144, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc Lưu Hùng C và bà Lê Thị Thúy H1 phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 1.142.236đ (Một triệu, một trăm bốn mươi hai nghìn, hai trăm ba mươi sáu đồng).
Hoàn trả lại án phí tạm nộp số tiền 524.037đ (Năm trăm hai mươi bốn nghìn, không trăm ba mươi bảy đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0003997 ngày 13/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiên Lương cho Ngân hàng thương mại cổ phần K.
3/ Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo trong hạn luật định 15 ngày kể từ ngày tuyên án (30/9/2024). Các bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Bản án về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tín dụng số 127/2024/DS-ST
| Số hiệu: | 127/2024/DS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Kiên Lương - Kiên Giang |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Ngày ban hành: | 30/09/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về