TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG
BẢN ÁN 94/2023/DS-ST NGÀY 11/10/2023 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG DÂN SỰ VAY TÀI SẢN
Ngày 11 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 96/2023/TLST-DS ngày 22 tháng 5 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 107/2023/QĐXXST- DS ngày 21 tháng 9 năm 2023; giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị Thanh B; sinh năm 1980.
Địa chỉ: Xóm 2 thôn 1, xã Hòa Ninh, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Quốc V; sinh năm 1987.
Địa chỉ: Số 56 Phạm Ngũ Lão, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng
Bị đơn: Ông Phạm Văn A; sinh năm 1974, bà Lý Thị S; sinh năm 1977.
Địa chỉ: Thôn 1, xã Hòa Ninh, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.
Ông V, ông A, bà S có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, lời khai, lời trình bày tại phiên tòa hôm nay, ông Phạm Quốc V đại diện cho bà Hoàng Thị Thanh B trình bày: Ngày 07-11-2022 bà S vay bà B số tiền 534.000.000đ, khi vay bà S có viết giấy mượn tiền và ký nhận, có con trai là Phạm Minh Nh cùng ký vào giấy, hẹn ngày 20 -11- 2022 trả. Sau khi ký nhận tiền bà S có giao cho bà B 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK 438980 ngày 24-5-2012 do UBND huyện D cấp, cập nhật lần cuối tên Phạm Văn A, lãi thỏa thuận 1.500đ/1 triệu/ngày. Ngày 25-11-2022 bà S đã trả cho bà B số tiền 21.000.000đ rồi không trả nữa.
Nay yêu cầu bà S trả số tiền gốc 534.000.000đ, lãi trong hạn từ ngày 07-11-2022 đến 20-11-2022 theo mức lãi 20%/năm thành tiền 4.136.000đ (đã làm tròn), lãi quá hạn từ ngày 21-11-2022 đến nay theo mức lãi 30%/năm thành tiền 142.400.000đ, tổng lãi 146.536.000đ, trừ đi số tiền lãi đã trả 21.000.000đ, còn 125.536.000đ. Tổng cộng cả gốc và lãi là 659.536.000đ.
Bà B sẽ có trách nhiệm trả lại cho ông A, bà S 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK 438980 ngày 24 -5-2012 do UBND huyện D cấp, cập nhật lần cuối tên Phạm Văn A.
Tài liệu, chứng cứ: Giấy mượn tiền ghi ngày 07-11-2022 bản chính; Giấy chứng nhận QSD đất số BK 438980 ngày 24-5-2012 do UBND huyện D cấp bản phô tô.
Theo lời trình bày tại hiên tòa hôm nay, bà Lý Thị S trình bày: Bà có vay của bà B nhiều lần trong vòng 10 năm nên mới thành khoản vay 534.000.000đ chứ không phải vay một lần và bà ký giấy vay ngày 07-11-2022 là do bà B ép buộc, con bà ký sau chứ không có mặt lúc ký giấy. Bà đồng ý trả nợ nhưng yêu cầu ông A phải cùng trả nợ với bà.
Theo lời khai, lời trình bày tại phiên tòa hôm nay, ông Phạm Văn A trình bày: Việc bà S vay mượn tiền của bà B như thế nào ông không biết. Nay bà B yêu cầu vợ chồng trả số tiền 659.536.000đ ông không đồng ý trả. Nếu bà B bàn bạc, tính toán cụ thể với ông thì ông sẽ cùng trả nợ.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện D phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà B; ông A, bà S có trách nhiệm thanh toán trả bà B số tiền gốc 534.000.000đ và tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn theo quy định; ông A, bà S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu và xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa hôm nay và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:
[2] Giữa bà Hoàng Thị Thanh B và bà Lý Thị S có vay mượn với nhau, ngày 07-11-2022, bà S vay bà B số tiền 534.000.000đ và có viết giấy tay, thỏa thuận lãi 1.500đ/1.000.000đ/tháng, hẹn trả ngày 20-11-2023 nhưng đến nay chưa trả nên bà Hoàng Thị Thanh B khởi kiện ông Phạm Văn A, bà Lý Thị S là có căn cứ.
[2] Phía bị đơn, bà S cho rằng bà vay bà B nhiều lần, mỗi lần một ít để làm ăn và trả nợ trong vòng 10 năm nên mới thành khoản vay 534.000.000đ chứ không phải vay một lần và bà ký giấy là do bà B ép buộc nhưng không đưa ra được tài liệu chứng cứ để chứng minh; ông A cho rằng việc bà S vay tiền bà B ông không biết và không đồng ý trả nợ. Xét thấy, việc bà S vay tiền bà B trong thời kỳ hôn nhân để về làm ăn buôn bán và trả nợ nên cần buộc ông A cùng phải có trách nhiệm trả nợ với bà S là có căn cứ.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị Thanh B yêu cầu ông Phạm Văn A, bà Lý Thị S có trách nhiệm trả nợ số tiền gốc 534.000.000đ và tiền lãi 125.536.000đ là có căn cứ chấp nhận.
[4] Do đó, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị B, cần buộc ông Phạm Văn A, bà Lý Thị S có trách nhiệm trả cho bà B số tiền 659.536.000đ là phù hợp.
[6] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, cần buộc ông Phạm Văn A, bà Lý Thị S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch (20.000.000đ + 249.536.000đ x 4% =) 30.381.000đ là đúng pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Điều 463; Điều 466; Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện bà Hoàng Thị Thanh B về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” với ông Phạm Văn A, bà Lý Thị S.
Buộc ông Phạm Văn A, bà Lý Thị S có trách nhiệm trả cho bà Hoàng Thị Thanh B số tiền 659.536.000đ (Sáu trăm năm mươi chín triệu năm trăm ba mươi sáu nghìn đồng).
Kể từ ngày bà B có đơn yêu cầu thi hành án, ông A, bà S còn phải trả số tiền lãi, tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả, theo mức lãi suất quy định tại Điều 357; Điều 468 Bộ luật dân sự.
Bà Hoàng Thị Thanh B có trách nhiệm trả lại cho ông Phạm Văn A, bà Lý Thị S Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK 438980 ngày 24 -5- 2012 do UBND huyện D cấp, cập nhật lần cuối tên Phạm Văn A.
2. Về án phí: Ông Phạm Văn A, bà Lý Thị S chịu 30.381.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho bà Hoàng Thị Thanh B số tiền 13.903.520đ đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0014021 ngày 22-5-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện D.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay, các đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản số 94/2023/DS-ST
| Số hiệu: | 94/2023/DS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Di Linh - Lâm Đồng |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Ngày ban hành: | 11/10/2023 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về