Bản án về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản số 83/2024/DS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ ÔN, TỈNH VĨNH LONG

BẢN ÁN 83/2024/DS-ST NGÀY 16/09/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG DÂN SỰ VAY TÀI SẢN

Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 191/2024/TLST-DS ngày 17 tháng 5 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự về vay tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2024/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Hồng G, sinh năm 1990. (vắng mặt) Địa chỉ cư trú: ấp T, xã T1, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Anh Trần Hoàng P, sinh năm 1987. (có mặt) Địa chỉ cư trú: ấp T, xã T1, huyện T2, tỉnh Vĩnh Long.

Là đại diện theo uỷ quyền (Văn bản uỷ quyền ngày 26/8/2024).

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Minh T, sinh năm 1990. (vắng mặt) Địa chỉ cư trú: ấp C, xã T, huyện T1, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 08/01/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Huỳnh Thị Hồng G trình bày: Giữa chị và anh Nguyễn Minh T là chỗ quen biết nên anh T có hỏi vay tiền của chị tổng cộng 03 lần với tổng số tiền 120.000.000đ, cụ thể như sau:

Lần 1: Vào ngày 18/01/2018 anh T vay 30.000.000đ, anh T có ký tên vào biên nhận, hứa trong 02 năm sẽ trả đủ.

Lần 2: Vào ngày 07/02/2018 anh T vay 30.000.000đ, anh T có ký tên vào biên nhận.

Lần 2: Vào ngày 14/02/2018 anh T vay 60.000.000đ, anh T có ký tên vào biên nhận.

Tổng cộng anh T vay của chị 120.000.000đ, thoả thuận bằng lời nói trong vòng 01 năm sẽ trả vốn, lãi cho chị. Sau khi vay thì anh T có trả lãi cho chị được 01 lần bằng 1.000.000đ thì ngưng. Sau 01 năm kể từ ngày anh T vay thì anh T không thực hiện việc trả vốn lại cho chị, chị đã nhiều lần đến gặp và yêu cầu anh T trả nợ vay nhưng anh T hứa hẹn rất nhiều lần nhưng không thực hiện. Nay chị khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết buộc anh Nguyễn Minh T có nghĩa vụ trả cho chị số tiền vay còn nợ tổng cộng 120.000.000đ, không yêu cầu tính lãi.

Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn trình bày: Chị Huỳnh Thị Hồng G yêu cầu anh Nguyễn Minh T có nghĩa vụ trả cho chị G số tiền vay vốn còn nợ tổng cộng là 120.000.000đ, không yêu cầu tính lãi.

Các chứng cứ mà các bên giao nộp đã được tiếp cận, công khai chứng cứ. Các bên không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, qua kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Nguyên đơn chị Huỳnh Thị Hồng G khởi kiện yêu cầu bị đơn anh Nguyễn Minh T có địa chỉ cư trú ấp C, xã T, huyện T1, tỉnh Vĩnh Long trả lại số tiền vay còn nợ. Do đó quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp hợp đồng dân sự về vay tài sản”, nên theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long. Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng.

[1.2] Bị đơn anh Nguyễn Minh T được triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không lý do mà không có người đại diện tham gia phiên tòa. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

[2] Về nội dung:

[2.1] Từ ngày 18/01/2018 đến ngày 14/02/2018, chị Huỳnh Thị Hồng G có cho anh Nguyễn Minh T vay tiền tổng cộng 03 lần: Lần 1 vay 30.000.000đ có biên nhận và anh T có ký tên, thoả thuận trong 02 năm trả đủ. Lần 2 vay 30.000.000đ, có biên nhận và anh T có ký tên, không thoả thuận thời hạn trả. Lần 3 vay 60.000.000đ, có biên nhận và anh T có ký tên, không thoả thuận thời hạn trả. Các bên thoả thuận bằng lời nói trong vòng 01 năm sẽ trả đủ vốn, lãi của 03 lần vay. Mặt khác bị đơn anh T không có ý kiến phản đối những tình tiết, tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp. Nên xem hợp đồng vay tài sản giữa chị Huỳnh Thị Hồng G và anh Nguyễn Minh T là sự việc có thật, đây là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2.2] Xét quá trình thực hiện hợp đồng đến nay bị đơn anh T vẫn chưa thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn. Nguyên đơn đã đòi nhiều lần nhưng bị đơn không trả là vi phạm nghĩa vụ trả tiền được quy định tại khoản 1 Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Do đó việc nguyên đơn chị G yêu cầu bị đơn anh T phải có nghĩa vụ trả số tiền vốn vay còn nợ 120.000.000đ, không yêu cầu tính lãi là có lợi cho phía bị đơn và có căn cứ phù hợp theo quy định tại các Điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên có cơ sở chấp nhận. Nên Hội đồng xét xử xét buộc bị đơn anh T có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn chị G số tiền vay còn nợ tổng cộng là 120.000.000đ (Một trăm hai mươi triệu đồng).

[2.3] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 6, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Cụ thể anh T phải nộp 120.000.000đ x 5% = 6.000.000đ (Sáu triệu đồng).

Nguyên đơn không phải chịu án phí nên hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp 3.000.000đ (Ba triệu đồng) theo biên lai thu số 0011325 ngày 10 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 463, Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 6, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Huỳnh Thị Hồng G.

Buộc bị đơn anh Nguyễn Minh T có nghĩa vụ trả nguyên đơn chị Huỳnh Thị Hồng G số tiền vay còn nợ tổng cộng là 120.000.000đ (Một trăm hai mươi triệu đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

2.1. Buộc anh Nguyễn Minh T có nghĩa vụ nộp 6.000.000đ (Sáu triệu đồng).

2.2. Hoàn trả chị Huỳnh Thị Hồng G số tiền tạm ứng án phí đã nộp 3.000.000đ (Ba triệu đồng) theo biên lai thu số 0011325 ngày 10 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

194
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản số 83/2024/DS-ST

Số hiệu:83/2024/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Trà Ôn - Vĩnh Long
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:16/09/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về