Bản án về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản số 68/2024/DS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP

BẢN ÁN 68/2024/DS-ST NGÀY 13/09/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG DÂN SỰ VAY TÀI SẢN

Ngày 13 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 134/2024/TLST-DS ngày 17 tháng 6 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 197/2024/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Lê Văn L, sinh ngày 15/10/1950. Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Lê Văn L là anh Hồ Thanh H, sinh ngày 09/12/1983. Địa chỉ: F đường C, khóm T, thị trấn T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp. Có mặt.

2. Bị đơn: Ông Bùi Hoài Quốc T, sinh năm 1975. Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện H, tỉnh Đồng Tháp. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, anh Hồ Thanh H, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ông T có quen biết ông L, nên ông L có cho ông T vay tiền tổng cộng 05 lần, cụ thể như sau:

- Lần 1: Ngày 20/8/2022, vay số tiền gốc 17.000.000 đồng, lãi suất 5%/tháng, có làm Biên nhận vay tiền, thời hạn vay 03 tháng.

- Lần 2: Ngày 09/12/2022, vay số tiền gốc 5.000.000 đồng, lãi suất 5%/tháng, có làm Biên nhận vay tiền, thời hạn vay 03 tháng.

- Lần 3: Ngày 11/01/2023, vay số tiền gốc 30.000.000 đồng, lãi suất 5%/tháng, có làm Biên nhận vay tiền, thời hạn vay 01 tháng.

- Lần 4: Ngày 16/02/2023, vay số tiền gốc 20.000.000 đồng, có làm Biên nhận vay tiền, trong đó ghi lãi suất 20% nhưng thực tế hai bên thỏa thuận lãi suất chỉ 5%/tháng, mục đích vay tiền để trả nợ cho người khác.

- Lần 5: Ngày 27/4/2023, vay số tiền gốc 5.000.000 đồng, có làm Biên nhận vay tiền, lãi suất 5%/tháng, thời hạn vay 03 tháng. Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn tự nguyện không yêu cầu tính lãi của lần vay này.

Cả 05 lần vay trên đều có làm Biên nhận do ông T tự ghi và ký tên. Mục đích ông T vay tiền là để nuôi cá. Việc vay tiền không có thể chấp tài sản. Kể từ thời điểm vay tiền cho đến nay, ông T không trả nợ gốc và không đóng lãi cho ông L được tháng nào hết. Nguyên nhân ông T không đóng lãi mà ông L cho vay liên tục 05 lần là do quen biết, ông T thấy ông L lớn tuổi nên liên tục năn nỉ ông L cho vay để làm ăn.

Nay, anh H đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu ông T trả cho ông L số tiền gốc còn nợ: 17.000.000 đồng + 5.000.000 đồng + 30.000.000 đồng + 20.000.000 đồng + 5.000.000 đồng = 77.000.000 đồng.

Về tiền lãi, tính từ ngày 27/4/2023 (lần vay cuối cùng) đến ngày 13/9/2024 (Tòa án xét xử sơ thẩm) là 505 ngày với số tiền: 72.000.000 đồng × 505 ngày × 1,66%/tháng = 19.843.500 đồng (lấy tròn số). Tổng cộng gốc và lãi: 77.000.000 đồng + 19.843.500 đồng = 96.843.500 đồng.

Bị đơn, ông Bùi Hoài Quốc T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để hòa giải và xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, nhưng ông T không đến Tòa án tham gia phiên hòa giải và xét xử, cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình cho Tòa án.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đúng theo quy định của BLTTDS. Về nội dung vụ án, đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc ông T trả cho ông L số tiền gốc và lãi theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

 Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ kiện tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS.

[2] Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, bị đơn không có yêu cầu phản tố, vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của BLTTDS.

[3] Trong quá trình giải quyết vụ án, ông T dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa theo đúng quy định của BLTTDS, nhưng ông T vẫn vắng mặt không có lý do và không gửi văn bản ghi ý kiến cho Tòa án, cũng không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản mà ông L cung cấp nên ông L không phải chứng minh các chứng cứ đã xuất trình cho Tòa án theo quy định tại khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 92 của BLTTDS.

[4] Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu tính lãi của lần vay thứ 5 vào ngày 27/4/2023. Hội đồng xét xử nhận thấy, việc thay đổi yêu cầu khởi kiện là tự nguyện, không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu, phù hợp với Điều 5, khoản 1 Điều 244 BLTTDS nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Xét yêu cầu khởi kiện của ông L, Hội đồng xét xử nhận thấy: Căn cứ ông L khởi kiện là các Biên nhận đề ngày 20/8/2022, 09/12/2022, 11/01/2023, 16/02/2023, 27/4/2023 có chữ ký của ông T. Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày là cả 05 lần vay trên đều có làm Biên nhận do ông T tự ghi và ký tên. Mục đích ông T vay tiền là để chăn nuôi cá. Việc vay tiền không có thể chấp tài sản. Kể từ thời điểm vay tiền cho đến nay, ông T không trả nợ gốc và không đóng lãi cho ông L lần nào. Nguyên nhân ông T không đóng lãi mà ông L cho vay liên tục 05 lần là do hai bên có quen biết, ông T năn nỉ ông L cho vay để làm ăn. Do ông T không có ý kiến, cũng không phản đối qua các yêu cầu, các lời khai của phía nguyên đơn nên các yêu cầu của ông L là có căn cứ để chấp nhận vì ông T vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nên buộc ông T trả cho ông L toàn bộ tiền vay nợ gốc và lãi theo quy định tại các Điều 463, 466 và 468 Bộ luật Dân sự.

[6] Trong các Biên nhận mà nguyên đơn cung cấp cũng như qua lời trình bày tại phiên tòa của đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn. Xét thấy, đây là hợp đồng vay có thỏa thuận về lãi suất. Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu tính lãi 1,66%/tháng là phù hợp với khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự. Như vậy, việc đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu tính lãi từ ngày 27/4/2023 (lần vay cuối cùng) cho đến ngày Tòa án xét xử sơ thẩm (13/9/2024) với mức 1,66%/tháng là phù hợp với quy định pháp luật.

[7] Đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ như Hội đồng xét xử đã nhận định nên chấp nhận.

[8] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên ông T phải chịu án phí theo quy định tại Điều 147 của BLTTDS, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án (viết tắt: Nghị quyết 326): 5% × 96.843.500 đồng = 4.842.000 đồng (lấy tròn số). Ông L thuộc trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí do thuộc trường hợp người cao tuổi (có đơn xin miễn) được quy định tại điểm đ, Điều 12 của Nghị quyết số 326, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 5, 26, 35, 39, 91, 92, 93, 95, 144, 147, 227, 228, 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 463, 466 và 468 của Bộ luật Dân sự; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn L. Buộc ông Bùi Hoài Quốc T phải có nghĩa vụ trả cho ông Lê Văn L số tiền vay còn nợ gốc và lãi là: 96.843.500 đồng (chín mươi sáu triệu tám trăm bốn mươi ba nghìn năm trăm đồng).

2. Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Bùi Hoài Quốc T phải chịu 4.842.000 đồng (bốn triệu tám trăm bốn mươi hai nghìn đồng).

4. Hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (13/9/2024); đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

94
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản số 68/2024/DS-ST

Số hiệu:68/2024/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hồng Ngự - Đồng Tháp
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:13/09/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về