TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
BẢN ÁN 59/2024/DS-ST NGÀY 30/08/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG DÂN SỰ VAY TÀI SẢN
Trong các ngày 27 và 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lí số 100/2024/T:ST-DS ngày 23 tháng 5 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 174/2024/QD9XXST-DS ngày 16 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần K (viết tắt: Ngân hàng). Địa chỉ: 4 đường P, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
Người đại diện theo pháp luật là ông Trần Ngọc M, chức vụ: Tổng Giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền của ông M là ông Thái Minh T, chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ. Địa chỉ: 3 đường H, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp (Quyết định số 723/QĐ-NHKL ngày 18/3/2024 của Tổng giám đốc). Có mặt.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn X, sinh năm 1976; Bà Phạm Thị P, sinh năm 1976 (vợ ông X). Cùng địa chỉ: Khóm T, thị trấn T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp. Tất cả vắng mặt.
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Hữu Đ, sinh năm 1995; Anh Nguyễn Hữu N, sinh năm 1998. Cùng địa chỉ: Khóm T, thị trấn T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp. Tất cả vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần K, do ông Thái Minh T đại diện, trình bày:
Ông Nguyễn Văn X và Bà Phạm Thị P có đến Ngân hàng TMCP K - Phòng G vay tổng số tiền là 1.920.000.000 đồng, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Hợp đồng tín dụng số 69/22/HDTD/0601-7610, ngày 17/01/2022 với số tiền vay: 280.000.000 đồng; Mục đích vay: Bổ sung vốn nuôi cá lóc thịt; Thời hạn vay: 12 tháng; Ngày giải ngân: 17/01/2022; Lãi suất vay: 11,1%/năm, điều chỉnh 03 tháng/lần và được tính bằng lãi suất tiền gửi tiết kiệm VNĐ kỳ hạn 13 tháng lãnh lãi cuối kỳ do Ngân hàng công bố tại thời điểm thay đổi lãi suất vay cộng biên độ 3,8%/năm. Lãi suất vay sau khi thay đổi không được thấp hơn lãi suất cho vay hiện hành tại Ngân hàng (cùng loại hình và phương thức vay); Lãi suất nợ quá hạn: Bằng 150% lãi suất vay tại thời điểm chuyển nợ quá hạn; Mức phạt chậm trả lãi: 10%/năm; Hình thức thanh toán: Trả lãi 03 tháng/lần và vốn gốc được trả cuối kỳ.
Lần thứ hai: Hợp đồng tín dụng số 1290/22/HĐTD/0601-7610 ngày 23/08/2022 với số tiền vay: 140.000.000 đồng; Mục đích vay: Bổ sung vốn nuôi cá lóc thịt; Thời hạn vay: 12 tháng; Ngày giải ngân: 23/08/2022; Lãi suất vay: 9,5%/năm, điều chỉnh 03 tháng/lần và được tính bằng lãi suất tiền gửi tiết kiệm VNĐ kỳ hạn 13 tháng lãnh lãi cuối kỳ do Ngân hàng công bố tại thời điểm thay đổi lãi suất vay cộng biên độ 3,2%/năm. Lãi suất vay sau khi thay đổi không được thấp hơn lãi suất cho vay hiện hành tại Ngân hàng (cùng loại hình và phương thức vay); Lãi suất nợ quá hạn: Bằng 150% lãi suất vay tại thời điểm chuyền nợ quá hạn; Mức phạt chậm trả lãi: 10%/năm; Hình thức thanh toán: Trả lãi 03 tháng/lần và vốn gốc được trả cuối kỳ.
Lần thứ ba: Hợp đồng tín dụng số 1043/22/HĐTD/0601-7610 ngày 23/06/2022 với số tiền vay: 1.500.000.000 đồng; Mục đích vay: Bổ sung vốn nuôi cá lóc thịt; Thời hạn vay: 12 tháng; Ngày giải ngân: 23/06/2022; Lãi suất vay: 10,6%/năm, điều chỉnh 03 tháng/lần và được tính bằng lãi suất tiền gửi tiết kiệm VNĐ kỳ hạn 13 tháng lãnh lãi cuối kỳ do Ngân hàng công bố tại thời điểm thay đổi lãi suất vay cộng biên độ 3,7%/năm. Lãi suất vay sau khi thay đổi không được thấp hơn lãi suất cho vay hiện hành tại Ngân hàng (cùng loại hình và phương thức vay); Lãi suất nợ quá hạn: Bằng 150% lãi suất vay tại thời điểm chuyển nợ quá hạn; Mức phạt chậm trả lãi: 10%/năm; Hình thức thanh toán: trả lãi 03 tháng/lần và vốn gốc được trả cuối kỳ.
Các hợp đồng tín dụng nêu trên được bảo đảm bởi Hợp đồng thế chấp số 1046.01/21/HĐTC-BĐS/0601-7610 ngày 21/06/2021; Hợp đồng thế chấp sửa đổi, bổ sung số 1046.01/21/HĐTC-BĐS/0601-7610-01 ngày 17/01/2022; Hợp đồng thế chấp sửa đổi, bổ sung số 1046.01/21/HĐTC-BĐS/0601-7610-02 ngày 23/08/2022 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP K - Phòng G với ông Nguyễn Văn X, bà Phạm Thị P, ông Nguyễn Hữu Đ1, ông Nguyễn Hữu N và đã được Phòng C tỉnh Đồng Tháp chứng nhận ngày 21/06/2021, ngày 17/01/2022 và ngày 23/08/2022 tài sản thế chấp bảo đảm nợ vay gồm:
Tài sản 1: Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CĐ 357665, số vào sổ CH04562 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 14/10/2016; Thửa đất số 180; Tờ bản đồ số 35; Diện tích 4017m2; Mục đích sử dụng đất: Đất chuyên trồng lúa nước; Thời hạn sử dụng: 15/10/2063; Tọa lạc xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp, đứng tên hộ ông Nguyễn Văn X.
Tài sản 2: Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CĐ 357666, số vào sổ CH04563 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 14/10/2016; Thửa đất số 196, Tờ bản đồ số 35; Diện tích 4787m2; Mục đích sử dụng đất: Đất chuyên trồng lúa nước; Thời hạn sử dụng: 15/10/2063; Tọa lạc xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp, đứng tên hộ ông Nguyễn Văn X.
Tài sản 3: Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CĐ 068692, số vào sổ CH04720 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 09/01/2017; Thửa đất số 216; Tờ bản đồ số 35; Diện tích 2771m2; Mục đích sử dụng đất: Đất chuyên trồng lúa nước; Thời hạn sử dụng: 01/07/2064; Tọa lạc xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp, đứng tên hộ ông Nguyễn Văn X.
Tài sản 4: Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CĐ 068691, số vào sổ CH04719 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 09/01/2017; Thửa đất số 227; Tờ bản đồ số 35; Diện tích 3964m2; Mục đích sử dụng đất: Đất chuyên trồng lúa nước; Thời hạn sử dụng: 01/07/2064; Tọa lạc xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp, đứng tên hộ ông Nguyễn Văn X.
Các hợp đồng tín dụng nêu trên còn được bảo đảm bởi Hợp đồng thế chấp số 1046.02/21/HDTC-BDS/0601-7610 ngày 21/06/2021; Hợp đồng thế chấp sửa đổi, bổ sung số 1046.02/21/HĐTC-BDS/0601-7610-01 ngày 17/01/2022 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP K - Phòng G với ông Nguyễn Văn X, bà Phạm Thị P, ông Nguyễn Hữu Đ1, ông Nguyễn Hữu N và đã được Phòng C tỉnh Đồng Tháp chứng nhận ngày 21/06/2021 và ngày 17/01/2022, tài sản thế chấp bảo đảm nợ vay gồm:
Tài sản 5: Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CU 525584, số vào sổ CH07048 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 10/01/2020; thửa đất số 28; Tờ bản đồ số 27; Diện tích 120m2; Mục đích sử dụng đất: Đất ở tại đô thị; Thời hạn sử dụng: lâu dài; Tọa lạc tại thị trấn T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp, đứng tên hộ ông Nguyễn Văn X.
Các tài sản thế chấp trên đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện H ngày 22/6/2021.
Trong quá trình vay vốn, ông X, bà Phước liên tục vi phạm hợp đồng, không thanh toán nợ cho ngân hàng khi đến hạn, ngân hàng đã nhiều lần thông báo nhưng không thanh toán theo thỏa thuận tại các hợp đồng đã ký. Tính đến ngày 27/8/2024, ông X, bà Phước còn nợ gốc là 1.920.000.000 đồng, lãi trong hạn là 183.521.972 đồng, lãi quá hạn là 538.437.814 đồng; phạt chậm trả lãi 25.639.488 đồng. Tổng cộng 2.667.599.274.
Nay, Ngân hàng yêu cầu ông X, bà Phước có trách nhiệm liên đới trả số tiền vay còn nợ gốc và lãi tổng cộng là 2.667.599.274 đồng (Trong đó nợ gốc là 1.920.000. 000 đồng, lãi trong hạn là 183.521.972 đồng; lãi quá hạn là 538.437.814 đồng; phạt chậm trả lãi 25.639.488 đồng) và tiếp tục tính lãi theo các Hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số 1046/21/HĐHM/0601-7610 ngày 21/06/2021; Hợp đồng tín dụng sửa đổi, bổ sung số 1046/21/HĐHM/0601-7610- 01 ngày 17/01/2022; Hợp đồng tín dụng sửa đổi, bổ sung số 1046/21/HĐHM/0601-7610-02 ngày 23/08/2022; Hợp đồng tín dụng từng lần số 69/22/HĐTD/0601-7610 ngày 17/01/2022; Hợp đồng tín dụng từng lần số 1290/22/HĐTD/0601-7610 ngày 23/08/2022; Hợp đồng tín dụng từng lần số 1043/22/HĐTD/0601-7610 ngày 23/06/2022 được ký kết giữa đại diện Ngân hàng với ông Nguyễn Văn X và bà Phạm Thị p cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
Yêu cầu tiếp tục duy trì các Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1046.01/21/HĐTC-BĐS/0601-7610 ngày 21/06/2021; Hợp đồng thế chấp sửa đổi, bổ sung số 1046.01/21/HĐTC-BĐS/0601-7610-01 ngày 17/01/2022; Hợp đồng thế chấp sửa đổi, bổ sung số 1046.01/21/HĐTC-BĐS/0601-7610-02 ngày 23/08/2022 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP K - P2 với ông Nguyễn Văn X, bà Phạm Thị P, ông Nguyễn Hữu Đ, ông Nguyễn Hữu N và đã được Phòng C tỉnh Đồng Tháp chứng nhận ngày 21/06/2021, ngày 17/01/2022 và 23/08/2022; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1046.02/2 l/HĐTC-BĐS/0601-7610 ngày 21/06/2021; Hợp đồng thế chấp sửa đổi, bổ sung số: 1046.02/21/HĐTC- BĐS/0601-7610-01 ngày 17/01/2022 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP K - P2 với ông Nguyễn Văn X, bà Phạm Thị p, ông Nguyễn Hừu Đ, ông Nguyễn Hữu N và đã được Phòng C tỉnh Đồng Tháp chứng nhận ngày 21/06/2021 và ngày 17/01/2022 để đảm bảo cho việc thi hành án.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Văn X trình bày:
Không nhớ ngày tháng năm chỉ nhớ khoảng 2-3 năm trước, ông và bà Phước có vay tiền của Ngân hàng K, vay nhiều lần, ông nhớ tổng số tiền vay gốc 1.950.000.000 đồng, lãi suất không nhớ, chỉ nhớ cứ 3 tháng ông phải đóng khoảng 30.000.000 đồng - 40.000.000 đồng tiền lãi, việc vay tiền có thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất, tổng diện tích khoảng 16.000m2 không nhớ số thửa, tờ bản đồ, đất tọa lạc tại xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp, phần đất ông thế chấp cho Ngân hàng hiện tại đều do ông quản lý, sử dụng, ông không có cho ai thuê, hay cầm cố cho ai. Mục đích vay tiền để làm vốn mua bán và nuôi ....., do lỗ ... nên không còn nuôi... nữa.
Trước đây ông từng vay tiền của Ngân hàng K đến hạn trả nợ là ông trả gốc để được vay lại. Cho đến năm 2022 ông và bà Phước kí kết với Ngân hàng K 03 Hợp đồng tín dụng, bao gồm: Hợp đồng tín dụng số 69/22/HĐTD/0601-7610 ngày 17/01/2022 số tiền gốc 280.000.000 đồng, số 1290/22/HĐTD/0601-7610 ngày 23/8/2022, số tiền vay gốc 140.000.000 đồng, số 1043/22/HĐTD/0601-7610 ngày 23/6/2022, số tiền vay gốc 1.500.000.000 đồng, từ lúc kí kết 03 hợp đồng nêu trên thì không có trả gốc, có đóng lãi nhưng không nhớ tổng số tiền đóng được bao nhiêu.
Nay Ngân hàng TMCP K yêu cầu ông, bà Phạm Thị P trả cho Ngân hàng số tiền vay còn nợ gốc: 1.920.000.000 đồng, lãi trong hạn 183.521.972 đồng, tiền phạt chậm trả lãi 8.845.971 đồng, lãi quá hạn 128.635.644 đồng (tiền lãi tính đến ngày 27/9/2023), tổng cộng gốc và lãi: 2.241.003.587 đồng và tiền lãi phát sinh trên dư nợ gốc từ ngày 28/9/2023 theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng nêu trên cho đến khi thanh toán dứt nợ; Tiếp tục duy trì các hợp đồng thế chấp đã kí kết giữa Ngân hàng với ông, bà Phạm Thị P, anh Nguyễn Hữu D91, anh Nguyễn Hữu N để đảm bảo cho việc thi hành án, thì ông và bà Phước, anh D91, anh N đều thống nhất toàn bộ yêu cầu của Ngân hàng K. Ông có thông báo cho vợ và các con ông về việc Tòa án gửi Thông báo thụ lí vụ án, Thông báo việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho bà Phước, anh Đ1, anh N nhưng vợ và các con ông bận làm ăn không thể đến tòa án tham gia hòa giải được.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Phạm Thị P, anh Nguyễn Hữu Đ1, anh Nguyễn Hữu N đã được Toà án triệu tập hợp lệ để hòa giải và xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS) nhưng bà Phước, anh Đ1 và anh N không đến Tòa án tham gia phiên hòa giải và xét xử cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình cho Tòa án. Đối với ông X thì có đến cho Tòa án lấy lời khai ngày 13/6/2024 như trên nhưng sau đều vắng mặt tại các buổi hòa giải và xét xử mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đúng theo quy định của BLTTDS.
- Về nội dung vụ án: Quá trình thực hiện Hợp đồng thì ông X, bà Phước đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ và lãi nên Ngân hàng yêu cầu ông X và bà Phước liên đới trả cho Ngân hàng tiền vay gốc 1.920.000.000đ và lãi trong hạn, lãi quá hạn, đồng thời tiếp tục chịu lãi theo Hợp đồng tín dụng đến khi trả xong nợ là có cơ sở chấp nhận. Tuy nhiên, trong 03 hợp đồng tín dụng thì có thỏa thuận phạt lãi chậm trả lãi là 10%, tức số tiền lãi trong hạn chưa trả của khách hàng x 10% x số ngày trễ trả lãi là hình thức lãi chồng lãi. Tuy trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận nhưng việc thỏa thuận không đúng quy định của pháp luật tại khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 01/2019/NQ/HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc xác định lãi, lãi suất, phạt chậm trả lãi “1. Hợp đồng vay tài sản có thỏa thuận xử lý đối với hành vi không trả nợ đúng hạn của bên vay thì Tòa án xem xét, quyết định theo nguyên tắc chỉ xử lý một lần đối với mọi hành vi không trả nợ đúng hạn’.
Việc ông X, bà Phước không trả lãi trong hạn phải chịu nợ lãi quá hạn bằng 150% lãi suất vay trong hạn nên không phải chịu thêm tiền lãi phạt do chậm trả lãi;
Mặt khác, khi kí 03 hợp đồng tín dụng đều có thỏa thuận 03 tháng điều chỉnh lãi suất 01 lần. Tuy nhiên, đến thời điểm xét xử thì lãi suất mà ông X, bà Phước phải tiếp tục thanh toán theo quyết định của Tòa án cũng phải được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi của Ngân hàng chứ không phải lãi suất dừng lại tại thời điểm xét xử.
Đối với Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất thì ngân hàng đề nghị duy trì chứ không xử lí nên không xem xét, giải quyết.
Căn cứ các Điều 463, 466, 468, Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của HĐTPTATC về xác định lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
Chấp nhận 01 phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần K;
Buộc ông Nguyễn Văn X và bà Phạm Thị P có trách nhiệm liên đới trả cho Ngân hàng số tiền vay còn nợ 1.920.000.000;
Tiền lãi trong hạn: 183.521.972 Lãi quá hạn: 470.954.169.
Không chấp nhận 01 phần yêu cầu về việc phạt chậm trả với số tiền 22.874.089, đồng thời tiếp tục chịu lãi suất theo sự điều chỉnh lãi suất 03 tháng 01 lần của từng hợp đồng tín dụng đã kí kết đến khi trả xong nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ kiện tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS.
[2] Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, bị đơn ông X, bà Phước; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Đ1, anh N vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do đó Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của BLTTDS.
[3] Về nội dung tranh chấp:
[3.1] Về nợ gốc: Xét về hình thức và nội dung các hợp đồng tín dụng số 1046/21/HĐHM/0601-7610 ngày 21/06/2021; Hợp đồng tín dụng sửa đổi, bổ sung số 1046/21/HĐHM/0601-7610-01 ngày 17/01/2022; Hợp đồng tín dụng sửa đổi, bổ sung số 1046/21/HĐHM/0601-7610-02 ngày 23/08/2022; Hợp đồng tín dụng từng lần số 69/22/HĐTD/0601-7610 ngày 17/01/2022; Hợp đồng tín dụng từng lần số 1290/22/HĐTD/0601-7610 ngày 23/08/2022; Hợp đồng tín dụng từng lần số 1043/22/HĐTD/0601-7610 ngày 23/06/2022 giữa Ngân hàng với ông Nguyễn Văn X và bà Phạm Thị P xuất phát từ sự tự nguyện, không trái pháp luật nên hợp đồng đã phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên từ thời điềm ký kết. Căn cứ các hợp đồng tín dụng nêu trên Ngân hàng cho ông Nguyễn Văn X và bà Phạm Thị P vay tổng số tiền gốc là 1.920.000.000 đồng, nội dung trên cho thấy việc giao kết hợp đồng tín dụng giữa các bên là có thật. Nội dung các bên thỏa thuận xuất phát từ sự tự nguyện không trái với các quy định pháp luật, phù hợp với quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự. Theo quy định tại khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng quy định: “Trong trường hợp khách hàng không trả nợ đến hạn thì tổ chức tín dụng có quyền xử lý nợ theo hợp đồng tín dụng” và tại khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự quy định: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn”. Trong quá trình thực hiện hợp đồng ông X, bà Phước đã vi phạm về nghĩa vụ trả nợ gốc. Tính đến ngày 27/8/2024, ông X, bà Phước còn nợ gốc là 1.920.000.000 đồng. Vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông X, bà Phước trả cho nguyên đơn số tiền gốc 1.920.000.000 đồng.
[3.2] Về nợ lãi: Căn cứ các hợp đồng tín dụng nêu trên thì Ngân hàng yêu cầu ông X, bà Phước trả gốc và lãi theo hợp đồng là phù hợp theo Điều 466 Bộ luật Dân sự. Căn cứ Bản kê tính lãi đến ngày 27/8/2024 thì ông X, bà Phước còn nợ Ngân hàng tiền lãi trong hạn là 183.521.972 đồng. Theo thỏa thuận tại các hợp đồng tín dụng nêu trên về lãi suất cho vay, phương thức tính lãi và điều chỉnh lãi suất, Hội đồng xét xử nhận thấy việc thỏa thuận lãi suất giữa hai bên đã được ký kết là phù hợp với quy định của pháp luật. Theo đó bị đơn chưa trả cho Ngân hàng lãi trong hạn 183.521.972 đồng, lãi quá hạn là 538.437.814 đồng, phạt chậm trả lãi 25.639.488 đồng tính đến ngày 27/8/2024 là có cơ sở theo điểm b khoản 2 Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, nên buộc các bị đơn phải thanh toán toàn bộ nợ gốc lãi theo yêu cầu của nguyên đơn. Việc các đương sự thỏa thuận phạt chậm trả lãi là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng 2010: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Do đó việc Kiểm sát viên đề nghị không chấp nhận việc trả lãi chậm trả của số tiền lãi là chưa phù hợp.
[3.3] Đối với việc yêu cầu tiếp tục duy trì các Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để đảm bảo cho việc thi hành án: Để đảm bảo nghĩa vụ của các khoản vay thì ông X, bà Phước có ký các Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1046.01/21/HĐTC-BĐS/0601-7610 ngày 21/06/2021; Hợp đồng thế chấp sửa đổi, bổ sung số 1046.01/21/HĐTC-BĐS/0601-7610-01 ngày 17/01/2022; Hợp đồng thế chấp sửa đổi, bổ sung số 1046.01/21/HĐTC-BĐS/0601-7610-02 ngày 23/08/2022 được kí kết giữa Ngân hàng TMCP K - P2 với ông Nguyễn Văn X, bà Phạm Thị P, ông Nguyễn Hữu Đ1, ông Nguyễn Hữu N và được Phòng C tỉnh Đồng Tháp chứng nhận ngày 21/06/2021, ngày 17/01/2022 và 23/08/2022; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1046.02/21/HĐTC-BĐS/0601-7610 ngày 21/06/2021; Hợp đồng thế chấp sửa đổi, bổ sung số: 1046.02/21/HĐTC-BĐS/0601-7610-01 ngày 17/01/2022 được kí kết giữa Ngân hàng TMCP K - P2 với ông Nguyễn Văn X, bà Phạm Thị P, ông Nguyễn Hữu Đ, ông Nguyễn Hữu N và được Phòng C tỉnh Đồng Tháp chứng nhận ngày 21/06/2021 và ngày 17/01/2022. Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất xác lập tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật về nội dung cũng như hình thức theo quy định tại Điều 317, Điều 318, Điều 319, 320, 321 của Bộ luật dân sự nên yêu cầu của nguyên đơn là có căn, Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên [5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào các Điều 147 BLTTDS, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lí và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc ông X, bà Phước liên đới chịu án phí đối với yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận là 85.351.985 đồng. Trả lại Ngân hàng TMCP K số tiền tạm ứng án phí đã nộp 38.410.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 5, 26, 35, 39, 91, 92, 147, 227, 228 và 235 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 317, 318, 319, 320, 321, 463, 466, 468 và 470 của Bộ luật dân sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng 2010;
Căn cứ khoản 2 Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng thương mại cổ phần K.
2. Buộc ông Nguyễn Văn X và bà Phạm Thị P có trách nhiệm liên đới trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần K số tiền vay còn nợ 2.667.599.274 đồng (Trong đó nợ gốc là 1.920.000.000 đồng, lãi trong hạn là 183.521.972 đồng; lãi quá hạn là 538.437.814 đồng; tiền lãi của số tiền chậm trả lãi 25.639.488 đồng) và tiếp tục chịu lãi phát sinh theo các Hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số 1046/21/HĐHM/0601-7610 ngày 21/06/2021; Hợp đồng tín dụng sửa đổi, bổ sung số 1046/21/HĐHM/0601-7610-01 ngày 17/01/2022; Hợp đồng tín dụng sửa đổi, bổ sung số 1046/21/HĐHM/0601-7610-02 ngày 23/08/2022; Hợp đồng tín dụng từng lần số 69/22/HĐTD/0601-7610 ngày 17/01/2022; Hợp đồng tín dụng từng lần số 1290/22/HĐTD/0601-7610 ngày 23/08/2022; Hợp đồng tín dụng từng lần số 1043/22/HĐTD/0601-7610 ngày 23/06/2022 cho đến khi trả hết nợ.
3. Tiếp tục duy trì Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1046.01/21/HĐTC-BĐS/0601-7610 ngày 21/06/2021; Hợp đồng thế chấp sửa đổi, bổ sung số 1046.01/21/HĐTC-BĐS/0601-7610-01 ngày 17/01/2022; Hợp đồng thế chấp sửa đổi, bổ sung số 1046.01/21/HĐTC-BĐS/0601-7610-02 ngày 23/08/2022 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP K - P2 với ông Nguyễn Văn X, bà Phạm Thị P, ông Nguyễn Hữu Đ1, ông Nguyễn Hữu N và đã được Phòng C tỉnh Đồng Tháp chứng nhận ngày 21/06/2021, ngày 17/01/2022 và 23/08/2022; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1046.02/21/HĐTC-BĐS/0601-7610 ngày 21/06/2021; Hợp đồng thế chấp sửa đổi, bổ sung số: 1046.02/21/HĐTC- BĐS/0601-7610-01 ngày 17/01/2022 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP K - P2 với ông Nguyễn Văn X, bà Phạm Thị P, ông Nguyễn Hữu Đ, ông Nguyễn Hữu N và đã được Phòng C tỉnh Đồng Tháp chứng nhận ngày 21/06/2021 và ngày 17/01/2022 để đảm bảo cho việc thi hành án.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
4.1. Buộc ông Nguyễn Văn X và bà phạm Thị P1 liên đới chịu 85.351.985 đồng.
4.2. Trả lại Ngân hàng TMCP K số tiền tạm ứng án phí đã nộp 38.410.000 đồng theo biên lai thu số 0006119 ngày 22/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hồng Ngự.
5. Hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (30 tháng 8 năm 2024). Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Bản án về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản số 59/2024/DS-ST
| Số hiệu: | 59/2024/DS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Hồng Ngự - Đồng Tháp |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Ngày ban hành: | 30/08/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về