Bản án về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản số 57/2024/DS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP

BẢN ÁN 57/2024/DS-ST NGÀY 27/08/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG DÂN SỰ VAY TÀI SẢN

Trong các ngày 08 tháng 8 và 27 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 86/2024/TLST-DS ngày 04 tháng 5 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 170/2024/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 205/2024/QĐST-DS ngày 08 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Ngô Thị T, sinh năm 1976. Địa chỉ: Khóm T, thị trấn T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp. Có mặt.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn X (tên gọi khác: X1), sinh năm 1976; Bà Phạm Thị P, sinh năm 1976 (vợ ông X). Cùng địa chỉ: Khóm T, thị trấn T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp. Tất cả vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà Ngô Thị T, trình bày:

Bà không có quan hệ bà con với bà Phước, chỉ là bạn bè. Vào khoảng năm 2021, bà bắt đầu cho bà Phước vay tiền. Mặc dù không còn giữ sổ sách, bà nhớ bà Phước đã vay 4 lần với tổng số tiền là 200.000.000 đồng. Hai bên không lập Biên nhận ban đầu. Hình thức cho vay là tiền góp, lãi suất 5%/tháng. Ví dụ, vay gốc 200.000.000 đồng thì góp tổng cộng gốc và lãi là 240.000.000 đồng, trong khoảng thời gian 4 tháng. Tuy nhiên, bà Phước góp không đủ thời gian như thỏa thuận, có khoản vay chỉ góp được một nửa, có khoản chỉ góp được mười mấy ngày thì dừng lại. Tổng cộng bà Phước đã góp được 113.000.000 đồng (240.000.000 đồng-127.000.000 đồng). Vào ngày 28/9/2021, tại nhà bà, hai bên chốt sổ và bà Phước còn nợ bà số tiền 127.000.000 đồng. Hai bên đã lập Biên nhận nợ, bà Phước ký tên và lăng tay. Ông X không có mặt nên không ký tên vào Biên nhận. Sau khi ký Biên nhận, bà nhớ ra bà Phước còn nợ thêm 9.000.000 đồng, nên bà ghi thêm vào Biên nhận dòng chữ "Số: 9.000.000 (một trăm ba mươi sáu triệu đồng)" với sự chứng kiến của bà Phước. Lý do bà kiện ông X cùng trả nợ là vì bà P1 nói với bà rằng mục đích vay tiền là để làm vườn trái cây, lo kinh tế chung trong gia đình, và ông X cũng biết việc bà Phước vay tiền. Trong những lần cho vay, ông X không có mặt nhưng có lần ông X góp tiền cho bà, có bà Trần Thị Đ chứng kiến. Sau khi bà Phước lập Biên nhận nợ nhưng không trả, ông X có đến gặp bà năn nỉ cho trả nợ dần dần, có bà Trần Thị Đ chứng kiến. Ngoài ra, bà còn có bằng chứng là đoạn clip quay lại lúc ông X năn nỉ. Trong quá trình giải quyết vụ án bà yêu cầu bà Phước và ông X liên đới trả cho bà số tiền vay còn nợ là 127.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi. Đối với 9.000.000 đồng ghi thêm trong Biên nhận, bà thống nhất không yêu cầu. Tại phiên tòa, bà trình bày là sau khi chốt số tiền nợ 127.000.000 đồng thì bà Phước và ông X có đến trả nhiều lần tổng cộng được 36.000.000 đồng, nay bà chỉ yêu cầu bà Phước và ông X cùng liên đới trả số tiền còn nợ là 91.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Văn X trình bày:

Bà T ghi trong đơn khởi kiện ông là “Trần Văn X2”. Tuy nhiên, ông tên là Nguyễn Văn X (còn gọi là X1), là chồng bà Phạm Thị P. Ông xác nhận đã nhận được các Thông báo về việc thụ lý vụ án, phiên họp kiểm tra chứng cứ và hòa giải, cũng như các Quyết định liên quan từ Tòa án. Ông cũng đã thông báo cho bà Phước nhưng bà bận đi làm nên không thể đến Tòa. Ông biết vợ mình có vay tiền bà T, nhưng không rõ số tiền gốc, lãi suất và số tiền đã trả. Chỉ đến khi bà T kiện và đến gặp ông, ông mới biết bà T đòi 127.000.000 đồng. Khi ông hỏi bà Phước, bà nói đã trả gần hết, chỉ còn nợ 75.000.000 đồng. Mục đích vay tiền là để làm ăn, nhưng ông không biết cụ thể là làm gì. Về Biên nhận nợ ngày 28/9/2021, bà Phước xác nhận đã ký và lăng tay vào với số tiền 127.000.000 đồng, nhưng sau đó đã trả thêm và chỉ còn nợ 75.000.000 đồng. Bà Phước không yêu cầu bà T lập biên nhận nhận tiền vì tin tưởng mối quan hệ bạn bè. Khi bà T đến đòi tiền, ông đã hứa sẽ trả dần, bắt đầu từ sau Tết với số tiền 5.000.000 đồng/tháng và bà T đã đồng ý lúc đó. Tuy nhiên, sau đó bà T vẫn tiếp tục kiện ra Tòa án. Ông xác nhận mình là người trong đoạn video mà bà T cung cấp. Hiện ông chưa thể trả nợ do hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Bà T thường nói vợ ông nợ 170.000.000 đồng hoặc 180.000.000 đồng, nhưng ông chưa có cơ hội đối chất vì bà Phước bận đi làm. Ông và bà Phước hiện vẫn là vợ chồng, không có thỏa thuận phân chia tài sản. Nếu bà Phước có nợ ai, vợ chồng ông sẽ cùng nhau trả. Về yêu cầu của bà T thì ông và bà Phước chỉ đồng ý trả 75.000.000 đồng, không đồng ý với số tiền còn lại.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đúng theo quy định của của Bộ luật Tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS). Về nội dung vụ án, đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bà Phước và ông X cùng liên đới trả số tiền còn nợ là 91.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ kiện tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điềm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS.

[2] Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, các bị đơn vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do đó Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của BLTTDS.

[3] Tại các khoản 1, 2 và 4 Điều 91 của BLTTDS quy định: “Đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp”; “Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó” và “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”. Các đương sự giao kết hàng loạt giao dịch, nhưng không cung cấp đầy đủ chứng cứ chứng minh nên Hội đồng xét xử căn cứ vào chứng cứ các bên giao nộp, chứng cứ đã thu thập được cho đến tại phiên tòa sơ thẩm để làm căn cứ giải quyết vụ án.

[4] Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa theo đúng quy định của BLTTDS, nhưng các bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do và không gửi văn bản ghi ý kiến cho Tòa án, cũng không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản mà nguyên đơn cung cấp nên phải chịu hậu quả pháp lý theo quy định tại khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 92 của BLTTDS. Đối với ông X có đến cho Tòa án lấy lời khai vào ngày 13/6/2014. Sau đó, thì ông X không đến Tòa án tham gia tố tụng cũng không tham gia phiên tòa sơ thẩm mặc dù được Tòa án triệu tập hợp lệ.

[5] Trong đơn khởi kiện, bà T yêu cầu bà Phước, ông X trả số tiền 136.000.000 đồng, không tính lãi. Trong quá trình giải quyết vụ án bà yêu cầu bà Phước và ông X liên đới trả cho bà số tiền vay còn nợ là 127.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi. Đối với 9.000.000 đồng ghi thêm trong Biên nhận, bà thống nhất không yêu cầu. Tại phiên tòa, bà trình bày là sau khi chốt số tiền nợ 127.000.000 đồng thì bà Phước và ông X có đến trả nhiều lần tổng cộng được 36.000.000 đồng, nay bà chỉ yêu cầu bà Phước và ông X cùng liên đới trả số tiền còn nợ là 91.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi là không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu, phù hợp với quy định tại Điều 5, khoản 1 Điều 244 của BLTTDS nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Xét yêu cầu khởi kiện của bà T, Hội đồng xét xử nhận thấy: Căn cứ bà T khởi kiện là “Biên nhận” đề ngày 28/9/2021. Tại biên bản lấy lời khai ngày 13/6/2024, ông X trình bày: “Ông có điện thoại cho bà Phước, bà Phước nói với ông là bà Phước có vay tiền bà T, nhưng đã trả gần hết rồi chỉ còn thiếu lại 75.000.000 đồng. Mục đích vay tiền đế làm ăn, cụ thể là làm ăn gì thì ông không biết. Còn Biên nhận nợ ngày 28/9/2021 có chữ ký và dấu vân tay của bà Phước thì ông có hỏi bà Phước, bà Phước nói có ký tên, lăng tay vào Biên nhận ngày 28/9/2021 với số tiền vay 127.000.000 đồng, tuy nhiên sau khi ký tên Biên nhận thì có trả thêm tiền cho bà T, đến nay chỉ còn nợ 75.000.000 đồng nhưng bà T lại không trừ ra, do thấy bạn bè thân thiết tin tưởng nên không kêu bà T làm Biên nhận nhận tiền”. Tuy nhiên, lời trình bày của ông X không được bà T thừa nhận và trong quá trình giải quyết vụ án, bà Phước, ông X cũng không xuất trình được chứng cứ chứng minh bà Phước còn nợ lại bà T 75.000.000 đồng. Do các bị đơn không đưa ra được chứng cứ chứng minh phản đối yêu cầu của nguyên đơn nên phải chịu hậu quả pháp lý.

[7] Tại biên bản lấy lời khai ngày 13/6/2024, ông X trình bày: “Ông có biết vợ Ông vay tiền của bà T, nhưng ông không biết rõ vay gốc bao nhiêu, lãi ra sao, cũng không biết bà Phước trả gốc, lãi cho bà T được bao nhiêu. Cho đến khi bà T kiện ông và bà Phước đòi tiền vay và đồng thời bà T đến nhà gặp ông (khoảng 10 ngày trước) thì Ông mới biết chuyện bà T kiện vợ chồng ông đòi 127.000.000 đồng”; “Bà Tcó cung cấp cho Tòa án đoạn video quay cảnh ông hứa trả nợ dần dần cho bà T mà Tòa án cỏ mở cho ông xem thì ông xác nhận Ông đúng là người đàn Ông trong video, ông có hứa trả nợ dần dần cho bà T như lời bà T nói, do hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên chưa trả được. Bà T gặp Ông cứ nói vợ ông nợ 170.000.000 đồng, 180.000.000 đồng nhưng vợ Ông bận đi làm nên ông chưa điện thoại đối chất được đến nay mới điện thoại. Ông và bà Phước hiện tại vẫn còn là vợ chồng, trong quá trình chung sống không có làm văn bản thỏa thuận chia tài sản chung, vợ chồng lớn tuổi, có sui gia nếu bà Phước có thiếu tiền ai thì vợ chồng cũng đồng lòng cùng trả. Nay bà T yêu cầu Ông và bà Phạm Thị P cùng liên đới trả cho bà T số tiền vay 127.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi thì ông và bà Phước chỉ thống nhất trả 75.000.000 đồng, số nợ còn lại không thống nhất”. Từ đó căn cứ xác định đây là khoản nợ chung của vợ chồng bà Phước, ông X để buộc ông X có nghĩa vụ liên đới cùng bà Phước trả số tiền còn nợ cho bà T là phù hợp với các Điều 27 và Điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[8] Đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ như Hội đồng xét xử đã nhận định nên chấp nhận.

[9] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bà Phước, ông X phải chịu án phí theo quy định tại Điều 147 của BLTTDS, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: 5% của số tiền 91.000.000 đồng là 4.550.000 đồng. Trả lại tiền tạm ứng án phí mà bà T đã nộp là 3.400.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 91, 92, 93, 95, 144, 147, 227, 228, 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ các Điều 27, 37 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị T.

Buộc ông Nguyễn Văn X, bà Phạm Thị p có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Ngô Thị T số tiền vay còn nợ là: 91.000.000 đồng (chín mươi mốt triệu đồng).

2. Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

3.1. Buộc ông Nguyễn Văn X, bà Phạm Thị P liên đới chịu 4.550.000 đồng (bốn triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng).

3.2 Trả lại cho bà Ngô Thị T số tiền tạm ứng án phí đã nộp 3.400.000 đồng (ba triệu bốn trăm nghìn đồng) theo Biên lai số 0006071 ngày 03 tháng 5 năm 2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.

4. Hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (27/8/2024); đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

105
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản số 57/2024/DS-ST

Số hiệu:57/2024/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Hồng Ngự - Đồng Tháp
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:27/08/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về