TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN A, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BẢN ÁN 347/2024/DS-ST NGÀY 24/09/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG DÂN SỰ VAY TÀI SẢN
Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 139/2024/TLST-DS ngày 23 tháng 4 năm 2024 về “tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 234/2024/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 182/2024/QĐST-DS ngày 05 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc Tế Việt N Địa chỉ thường trú: phường PS, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh; Địa chỉ liên lạc: Phường YL, quận O, Thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện hợp pháp: Ông Hoàng Trung Luân, sinh năm 1993; Địa chỉ liên lạc: Phường YL, quận O, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
2. Bị đơn: Ông Hà Minh L, sinh năm 1981 Địa chỉ: Phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện đề ngày 07/7/2021, đơn sửa đổi, bổ sung đơn khơi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn, Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc Tế Việt N (từ đây viết tắt là Ngân hàng) do ông Hoàng Trung L2 là đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 03/4/2018, Ông Hà Minh L có ký với Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc Tế Việt N Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Đăng ký phát hành thẻ tín dụng quốc tế, Bản chấp thuận về Điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng VIB (đơn vị phát hành thẻ) – các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng. Căn cứ thu nhập trong đơn đề nghị của ông L và chính sách cấp thẻ của Ngân hàng, ngày 05/4/2018 Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 100.000.000đồng (một trăm triệu đồng) cho Ông Hà Minh L, mục đích sử dụng là tiêu dùng cá nhân, mức lãi suất áp dụng theo biểu lãi suất áp dụng theo từng thời kỳ của Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc Tế Việt N, tại thời điểm ký Hợp đồng, lãi suất trong hạn đối với loại tín dụng này là 32,5%/năm.
Thực hiện Hợp đồng trên, ông L đã kích hoạt và sử dụng thẻ. Quá trình sử dụng thẻ, từ khi kích hoạt thẻ cho đến ngày 10/11/2020, ông L đã sử dụng tổng số tiền là 1.790.556.263đồng, ông L đã thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền là 1.580.868.073đồng (bao gồm tiền mà ông L đã giao dịch, phí và lãi phát sinh trong kỳ thanh toán), sau đó ông L không tiếp tục thanh toán số tiền đã sử dụng và tiền lãi phát sinh cho Ngân hàng nữa, Ngân hàng cũng đã nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông L vẫn không có thiện chí trả nợ. Ông L đã không còn thanh toán nợ thẻ tín dụng cho Ngân hàng từ ngày 04/11/2019. Do ông L vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên từ ngày 11/11/2020, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của ông L và chuyển toàn bộ dư nợ quá hạn để trích lập dự phòng nên không phát sinh lãi, phí.
Tính đến ngày 24/9/2024, ông L còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là 209.698.190đ (hai trăm lẻ chín triệu sáu trăm chín mươi tám nghìn một trăm chín mươi đồng), trong đó bao gồm tiền nợ gốc là 114.805.759đồng, tiền nợ lãi là 41.682.826đồng và nợ phí là 53.209.605đồng.
Nay Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc Tế Việt N yêu cầu Ông Hà Minh L thanh toán ngay cho Ngân hàng tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 24/9/2024, ông L còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là 209.698.190đ (hai trăm lẻ chín triệu sáu trăm chín mươi tám nghìn một trăm chín mươi đồng), trong đó bao gồm tiền nợ gốc là 114.805.759đồng, tiền nợ lãi là 41.682.826đồng và nợ phí là 53.209.605đồng và khoản lãi phát sinh kể từ ngày 25/9/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo mức lãi suất nợ quá hạn thỏa thuận trong hợp đồng.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Ông Hà Minh L không đến Tòa làm việc theo triệu tập của Tòa án nên không ghi nhận được ý kiến của Ông Hà Minh L.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận A tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và của Hội đồng xét xử kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đã đảm bảo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia giải quyết vụ án nhưng đều vắng mặt không có lý do. Việc đưa vụ án ra xét xử đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung giải quyết vụ án: đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về tố tụng và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc Tế Việt N khởi kiện yêu cầu Ông Hà Minh L (có địa chỉ tại Phường 8, Quận A) phải thanh toán tiền nợ gốc và tiền lãi theo Đăng ký phát hành thẻ tín dụng quốc tế do ông L ký ngày 03/4/2018, được Ngân Hàng phê duyệt hạn mức tín dụng ngày 05/4/2018, mục đích sử dụng vốn vay là để tiêu dùng. Như vậy, đây là tranh chấp về dân sự, theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận A.
Bị đơn là Ông Hà Minh L đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng tại phiên tòa lần thứ hai vẫn vắng mặt. Vì vậy, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông L.
[2] Xét yêu cầu của nguyên đơn:
Hội đồng xét xử nhận thấy: Tòa án đã thông báo cho Ông Hà Minh L về việc Tòa án thụ lý vụ kiện và các nội dung mà nguyên đơn yêu cầu cùng với các chứng cứ kèm theo về địa chỉ mà ông L đã cung cấp khi tiến hành giao dịch với Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc Tế Việt N, tuy nhiên phía ông L không có mặt trong quá trình Tòa án giải quyết cũng như tại phiên tòa, đồng thời Tòa án cũng không nhận được ý kiến hoặc văn bản của ông L về việc phản đối các tình tiết mà phía nguyên đơn đưa ra. Theo quy định tại khoản 2 điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015: Những tình tiết, sự kiện đương sự đưa ra mà đương sự kia thừa nhận hoặc không phản đối thì đương sự đó không phải chứng minh. Vì vậy, Tòa án công nhận những tình tiết, sự kiện và tài liệu Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc Tế Việt N đưa ra có giá trị chứng minh.
Theo Đăng ký phát hành thẻ tín dụng quốc tế ký ngày 03/4/2018 của Ông Hà Minh L, Bản chấp thuận về Điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng VIB của Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc Tế Việt N và lời trình bày của đại diện Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc Tế Việt N cho thấy giao dịch giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc Tế Việt N và Ông Hà Minh L là “Hợp đồng vay tài sản”, mức lãi suất hai bên thỏa thuận phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 3, khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 và Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng nhà nước Việt Nam, hợp đồng có đủ điều kiện theo quy định tại Điều 117, Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015 nên có hiệu lực thực hiện.
Về số tiền ông L còn nợ ngân hàng: theo lời trình bày của đại diện Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc Tế Việt N thì: Quá trình sử dụng thẻ, từ khi kích hoạt thẻ cho đến ngày 10/11/2020, ông L đã sử dụng tổng số tiền là 1.790.556.263đồng, ông L đã thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền là 1.580.868.073đồng (bao gồm tiền mà ông L đã giao dịch, phí và lãi phát sinh trong kỳ thanh toán), từ ngày 04/11/2019 ông L không tiếp tục thanh toán số tiền đã sử dụng và tiền lãi phát sinh cho Ngân hàng nữa. Tính đến ngày 24/9/2024, ông L còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là 209.698.190đ (hai trăm lẻ chín triệu sáu trăm chín mươi tám nghìn một trăm chín mươi đồng), trong đó bao gồm tiền nợ gốc là 114.805.759đồng, tiền nợ lãi là 41.682.826đồng và nợ phí là 53.209.605đồng.
Như vậy, phía ông L đã không thực hiện đúng nghĩa vụ theo hợp đồng đã ký giữa hai bên. Theo quy định tại Điều 463 và Điều 466 Bộ luật dân sự thì ông L phải có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc Tế Việt N nên đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn và buộc ông L phải thanh toán số tiền còn nợ cho nguyên đơn.
[3] Về thời hạn thanh toán: Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc Tế Việt N yêu cầu Ông Hà Minh L phải có trách nhiệm thanh toán ngay cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc Tế Việt N toàn bộ số tiền nợ tính đến ngày 24/9/2024 là 209.698.190đ (hai trăm lẻ chín triệu sáu trăm chín mươi tám nghìn một trăm chín mươi đồng), trong đó bao gồm tiền nợ gốc là 114.805.759đồng, tiền nợ lãi là 41.682.826đồng và nợ phí là 53.209.605đồng là có căn cứ chấp nhận.
[4] Căn cứ án lệ số 08/2016/AL về xác định lãi suất, việc điều chỉnh lãi suất trong hợp đồng tín dụng kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm thì:
“Đối với các khoản tiền vay của tổ chức Ngân hàng, tín dụng, ngoài khoản tiền nợ gốc, lãi vay trong hạn, lãi vay quá hạn, phí mà khách hàng vay phải thanh toán cho bên cho vay theo hợp đồng tín dụng tính đến ngày xét xử sơ thẩm, thì kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này”. Nên Ông Hà Minh L còn phải tiếp tục chịu lãi quá hạn trên phần nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong nợ.
[5] Về án phí Dân sự sơ thẩm: Ông Hà Minh L phải chịu án phí dân sự là: 209.698.190đồng x 5% = 10.484.910đồng theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc Tế Việt N không phải nộp án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng;
Căn cứ Điều 417, 463, 466, 468 Bộ luật dân sự 2015;
Căn cứ Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/8/2016 và công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao;
Căn cứ Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016;
Căn cứ Điều 26 Luật thi hành án dân sự. Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
1/ Buộc Ông Hà Minh L phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc Tế Việt N tổng số tiền còn nợ là 209.698.190đồng, (trong đó bao gồm nợ gốc là 114.805.759đồng và nợ lãi là 41.682.826đồng, nợ phí là 53.209.605đồng), theo Đăng ký phát hành thẻ tín dụng quốc tế do ông L ký ngày 03/4/2018, được Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc Tế Việt N phê duyệt hạn mức tín dụng ngày 05/4/2018.
Thời hạn thanh toán: Thanh toán ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
2/ Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, Ông Hà Minh L còn phải tiếp tục trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc Tế Việt N khoản tiền lãi của số tiền chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số nợ. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc Tế Việt N thì lãi suất mà Ông Hà Minh L phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc Tế Việt N theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc Tế Việt N.
3/ Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Hà Minh L phải nộp án phí là 10.484.910đồng (mười triệu bốn trăm tám mươi bốn nghìn chín trăm mười nghìn đồng).
- Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc Tế Việt N không phải nộp án phí, trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc Tế Việt N số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 5.242.455đ (năm triệu hai trăm bốn mươi hai nghìn bốn trăm năm mươi lăm đồng) theo biên lai thu số 0009831 ngày 23/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận A.
4/ Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Viện kiểm sát có quyền kháng nghị bản án theo quy định của pháp luật.
5/ Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản số 347/2024/DS-ST
| Số hiệu: | 347/2024/DS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Quận 11 - Hồ Chí Minh |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Ngày ban hành: | 24/09/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về