TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
BẢN ÁN 193/2024/DS-PT NGÀY 17/12/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG DÂN SỰ VAY TÀI SẢN
Ngày 17 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng; xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 259/2024/TLPT-DS ngày 05 tháng 11 năm 2024 về tranh chấp: “Hợp đồng dân sự vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 28/2024/DS-ST ngày 20 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 506/2024/QĐ-PT ngày 02 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Vũ Công T, sinh năm: 1966; cư trú tại số 218/5, đường LPH , phường Lộc Tiến, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng; có mặt.
- Bị đơn: Vợ chồng ông Hoàng Ngọc L, sinh năm: 1981; bà Lê Thị Mộng Đ , sinh năm: 1982; cư trú tại số nhà 70/5, đường MTL, Xóm 4, Thôn 2, xã Đại Lào, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng; có mặt.
- Người kháng cáo: Vợ chồng ông Hoàng Ngọc L, bà Lê Thị Mộng Đ – Bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo nội dung đơn khởi kiện ghi ngày 23/10/2023, lời trình bày tại các bản tự khai và trong quá trình tham gia tố tụng của ông Vũ Công T trình bày:
Do có quan hệ quen biết nên ông T có cho ông Hoàng Ngọc L và bà Lê Thị Mộng Đ vay số tiền cụ thể:
Lần 1: Ngày 17/02/2023 tiền gốc là 200.000.000đ, thời hạn vay đến 17/3/2023; tiền lãi trong hạn là: 200.000.000đ x 30 ngày x 10%/năm = 2.000.000đ. Lãi quá hạn đến ngày tính đến ngày 20/8/2024 là: 200.000.000đ x 521 ngày x 15%/ năm = 52.100.000đ. Tổng tiền lãi là: 54.100.000đ.
Lần 2: Ngày 19/02/2023 tiền gốc là 150.000.000đ, thời hạn vay đến 19/3/2023; tiền lãi trong hạn là: 150.000.000đ x 30 ngày x 10%/năm = 1.500.000đ.Lãi quá hạn đến ngày tính đến ngày 20/8/2024 là: 150.000.000đ x 519 ngày x 15%/ năm = 37.890.000đ. Tổng tiền lãi là: 39.390.000đ.
Lần 3: Ngày 24/3/2023 tiền gốc là 100.000.000đ, thời hạn vay đến 24/5/2023; tiền lãi trong hạn là: 100.000.000đ x 60 ngày x 10% /năm = 2.000.000đ.Lãi quá hạn đến ngày tính đến ngày 20/8/2024 là: 100.000.000đ x 453 ngày x 15%/năm = 21.850.000đ. Tổng tiền lãi là: 23.850.000đ.
Tổng cộng tiền lãi là 117.340.000đ; cộng cả gốc và lãi là: 450.000.000đ + 117.340.000đ = 567.340.000đ.
Ông T khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng ông L, bà Đ có nghĩa vụ trả cho ông số tiền nợ gốc là 450.000.000đ và tiền lãi tính đến ngày 20/8/2024 là 117.340.000đ, cộng hai khoản là 567.340.000đ.
Tại phiên tòa sơ thẩm ông T rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền lãi do ông tính không đúng là 19.673.336đ; chỉ yêu cầu vợ chồng ông L, bà Đ trả khoản lãi theo quy định của pháp luật là 97.666.664đ.
Theo vợ chồng ông Hoàng Ngọc L, bà Lê Thị Mộng Đ trình bày:
Ông, bà thừa nhận có vay của ông T số tiền 200.000.000đ vào ngày 17/02/2023 đúng như giấy vay tiền mà ông T nộp cho Tòa án. Riêng số tiền 250.000.000đ tại 02 giấy vay tiền đề ngày 19/02/2023 và ngày 24/3/2003 ông, bà có ký tên và điểm chỉ vào giấy vay tiền khi chưa ghi số tiền và ông T cũng không giao tiền cho vợ chồng ông, bà. Do vậy vợ chồng ông, bà chỉ đồng ý trả cho ông T số tiền 200.000.000đ tiền gốc, không đồng ý trả số tiền 250.000.000đ.
Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không thành.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 28/2024/DS-ST ngày 20 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng. Tuyên xử:
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Vũ Công T đối với số tiền lãi 19.673.336đ.
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Vũ Công T về tranh chấp hợp đồng vay tài sản, buộc ông Hoàng Ngọc L và bà Lê Thị Mộng Đ có nghĩa vụ trả cho ông T số tiền 547. 666.664đ (trong đó: 450.000.000đ tiền gốc và 97.666.664đ tiền lãi.
Ngoài ra, Bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo và trách nhiệm thi hành án của các đương sự.
Ngày 07/10/2024 ông Hoàng Ngọc L, bà Lê Thị Mộng Đ kháng cáo đề nghị xem xét lại toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, Ông Hoàng Ngọc L, bà Lê Thị Mộng Đ vẫn giữ nguyên kháng cáo.
Ông Vũ Công T không đồng ý với kháng cáo của nguyên đơn đề nghị giải quyết như Bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự tại giai đoạn phúc thẩm cũng như phiên tòa hôm nay: đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; không chấp nhận kháng cáo của ông L, bà Đ ; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Quan hệ tranh chấp giữa các bên đã được Tòa án cấp sơ thẩm xác định theo đúng quy định của pháp luật; đơn kháng cáo của ông Hoàng Ngọc L, bà Lê Thị Mộng Đ ; thủ tục kháng cáo được thực hiện theo đúng quy định tại các Điều 271, 272, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên đủ điều kiện để Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của ông Hoàng Ngọc L, bà Lê Thị Mộng Đ thấy rằng:
[2.1] Trong quá trình giải quyết vụ án các giấy vay tiền đều thể hiện đứng tên người vay là ông Hoàng Ngọc L, trú tại Xóm 4, thôn 2, xã Đại Lào, thành phố Bảo Lộc; các giấy vay tiền đều không ghi ngày tháng năm, chỉ ghi thời hạn vay và số tiền vay, cụ thể: Số tiền 200.000.000đ (từ ngày 17/02/2023 đến 17/03/2023), số tiền 150.000.000đ (từ ngày 19/02/2023 đến 19/03/2023), số tiền 100.000.000đ (từ ngày 24/03/2023 đến ngày 24/05/2023), phía dưới các giấy vay tiền có lăn tay, chữ viết, chữ ký ghi rõ họ tên của ông Hoàng Ngọc L, bà Lê Thị Mộng Đ được ông L, bà Đ thừa nhận là chữ ký, chữ viết của minh. Căn cứ Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, đây là những tình tiết sự kiện không phải chứng minh.
[2.2] Xét lời trình bày của bị đơn cho rằng chỉ vay 200.000.000đ, còn số tiền 250.000.000đ bị đơn không thừa nhận và cho rằng có ký tên, lăn tay trên hai khoản vay nhưng không được nhận số tiền 250.000.000đ nhưng bản thân bị đơn là người có đủ năng lực hành vi dân sự, không bị hạn chế bởi quy định pháp luật, trên tất cả 03 giấy vay tiền đều có chữ ký, lăn tay của bị đơn nhưng lại chỉ thừa nhận khoản vay 200.000.000đ là không phù hợp. Hơn nữa, trong suốt quá trình giải quyết vụ án bị đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh bị đơn không vay số tiền theo 02 giấy vay còn lại với số tiền 250.000.000đ nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn phải trả tiền gốc là có cơ sở chấp nhận.
[2.3] Từ những phân tích trên, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của vợ chồng ông Hoàng Ngọc L, bà Lê Thị Mộng Đ ; giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp.
[3] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên vợ chồng ông Hoàng Ngọc L, bà Lê Thị Mộng Đ phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của vợ chồng ông Hoàng Ngọc L, bà Lê Thị Mộng Đ , giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
Tuyên xử:
1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Vũ Công T đối với số tiền lãi 19.673.336đ.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Vũ Công T về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản với ông Hoàng Ngọc L, bà Lê Thị Mộng Đ .
Buộc ông Hoàng Ngọc L và bà Lê Thị Mộng Đ có nghĩa vụ trả cho ông T số tiền 547. 666.664đ (trong đó: 450.000.000đ tiền gốc và 97.666.664đ tiền lãi).
3. Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc Hoàng Ngọc L, bà Lê Thị Mộng Đ phải chịu 25.906.670đ án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Vũ Công T được nhận lại số tiền 11.857.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0006032 ngày 24/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.
- Án phí dân sự phúc thẩm:
Buộc Hoàng Ngọc L và bà Lê Thị Mộng Đ phải chịu 600.000đ án phí dân sự phúc thẩm được trừ vào số tiền 600.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo các Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006031 ngày 22/10/2024 và số 0006032 ngày 22/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng. Ông L, bà Đ đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
4. Về nghĩa vụ thi hành án:
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật và kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Bản án về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản số 193/2024/DS-PT
| Số hiệu: | 193/2024/DS-PT |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Lâm Đồng |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Ngày ban hành: | 17/12/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về