TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – TỈNH CÀ MAU
BẢN ÁN 53/2025/DS-ST NGÀY 29/07/2025 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG CỐ ĐẤT
Ngày 29 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 24/2025/TLST-DS ngày 13 tháng 01 năm 2025 về việc "Tranh chấp hợp đồng cố đất" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 244/2025/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Ông Hồ Văn T, sinh năm 1976, địa chỉ cư trú: Ấp x, xã T, tỉnh Cà Mau.
2.Bị đơn:
-Bà Đỗ Thị N, sinh năm 1968.
-Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1966.
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp x, xã T, tỉnh Cà Mau.
3.Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Nguyễn Quốc V, sinh năm 1982, địa chỉ cư trú: Khóm x, xã S, tỉnh Cà Mau.
Bà Đoàn Tuyết N, sinh năm 1982 (vợ ông T), địa chỉ cư trú: Ấp x, xã T, tỉnh Cà Mau.
Ngân hàng T - Chi nhánh Cà Mau - phòng giao dịch Sông Đốc.
Địa chỉ: Khóm x, xã S, tỉnh Cà Mau.
-Tại phiên toà:
Nguyên đơn là ông T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà N có mặt, còn bị đơn là bà N và ông Đ, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông V và Ngân hàng T vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
*/ Nguyên đơn ông Hồ Văn T trình bày:
Ông T có nhận cố của bà N và ông Đ phần đất trồng lúa 07 công tầm 3 mét, đất tại Ấp x, xã T, tỉnh Cà Mau (trước đây ấp 10B, xã Trần Hợi, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau), với giá 50 chỉ vàng 24k, thời hạn cố 05 năm, sau 03 năm bà N và ông Đ muốn chuộc đất ông T đồng ý. Các bên có lập Tờ giao kèo cố đất ngày 09/03/2015 âl, nhưng đến nay đã quá thời hạn cố, mà bà N và ông Đ không chịu chuộc đất.
Nay, ông Hồ Văn T khởi kiện yêu cầu huỷ Tờ giao kèo cố đất ngày 09/03/2015 âl, buộc ông Đ và bà N trả 50 chỉ vàng 24k.
*/ Bị đơn bà Đỗ Thị N và ông Nguyễn Văn Đ trình bày:
Về nội dung khởi kiện, ông T trình bày là đúng.
Vợ chồng bị đơn cố đất cho ông T trên 10 năm nay, ông T vẫn canh tác, nhưng nay lại khởi kiện, vợ chồng bị đơn không đồng ý.
Vợ chồng bị đơn yêu cầu ông T dừng canh tác đất với thời hạn 01 năm, nếu có vàng vợ chồng bị đơn sẽ trả cho ông T.
*/ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Quốc V trình bày:
ông V có nhận chuyển nhượng của ông Đ, bà N phần đất 11.764,6m2, thửa 75, tờ bản đồ số 3, đến ngày 16/6/2023 ông V được Chi nhánh VP đăng ký đất đai huyện Trần Văn Thời điều chỉnh sang. Thời điểm chuyển nhượng không biết bà N, ông Đ cố đất cho ông T. Phần đất này ông V thế chấp tại Ngân hàng T đến nay. Ngoài ra, ông V có nhận tiền cọc của vợ chồng ông T và bà N là 250 triệu đồng, để chuyển nhượng lại phần đất 11.764,6m2 cho ông T và bà N, giá trị chuyển nhượng là 650 triệu đồng, nhưng ông V với ông T và bà N thoả thuận riêng, không có yêu cầu gì ở vụ án này.
*/ Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng T vắng mặt.
Tại phiên toà, ông T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
*/ Ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát như sau:
1/ Về tố tụng:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử.
Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ của đương sự. Riêng, đối với bị đơn là bà Đỗ Thị N và ông Nguyễn Văn Đ, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Quốc V và Ngân hàng T - Chi nhánh Cà Mau - phòng giao dịch Sông Đốc đã thực hiện không đúng về quyền và nghĩa vụ của đương sự, do không chấp hành Giấy triệu tập của Toà án.
2/ Về nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử:
-Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hồ Văn T.
-Tuyên bố hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất được ký kết giữa ông T với bà N và ông Đ, được xác lập tại Tờ giao kèo cố đất ngày 09/03/2015 âl, là vô hiệu.
-Buộc bà Đỗ Thị N và ông Nguyễn Văn Đ trả cho ông Hồ Văn T 50 chỉ vàng 24 kara.
-Về án phí đề nghị xử lý theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]Về tố tụng:
[1.1] Về việc chấp hành pháp luật của đương sự:
Đối với bị đơn là bà Đỗ Thị N và ông Nguyễn Văn Đ, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Quốc V và Ngân hàng T - Chi nhánh Cà Mau - phòng giao dịch Sông Đốc, đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai vẫn vắng mặt.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, cần xét xử vắng mặt đối với các đương sự nêu trên là phù hợp.
[1.2] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:
Được xác định là “Tranh chấp hợp đồng cố đất”, bị đơn là bà Đỗ Thị N và ông Nguyễn Văn Đ, cũng như phần đất cầm cố 11.764,6 m2, thửa 75, tờ bản đồ số 3, đất toạ lạc tại Ấp x, xã T, tỉnh Cà Mau (trước đây ấp 10B, xã Trần Hợi, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau).
Từ đó, Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết là đúng theo khoản 3, Điều 26; điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2]Xét yêu cầu khởi kiện của ông T, thấy rằng:
Tại Giấy chứng nhận số DL 159241 ngày 07/4/2023, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Cà Mau cấp đứng tên ông Đ, diện tích 11.764,6m2, thửa 75, tờ bản đồ số 3, đất tọa lạc tại Ấp x, xã T, tỉnh Cà Mau (trước đây ấp 10B, xã Trần Hợi, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau). Đến ngày 22/5/2023, ông Đ và bà N chuyển nhượng lại cho ông V, ông V được Chi nhánh VP đăng ký đất đai huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau được điều chỉnh sang ngày 16/6/2023. Sau đó, ông V thế chấp phần đất tại Ngân hàng T - Chi nhánh Cà Mau - phòng giao dịch Sông Đốc cho đến nay. Mặt khác, theo ông V, cũng như ông T và bà N xác định, ông V có nhận tiền cọc của vợ chồng ông T và bà N số tiền 250 triệu đồng, để ông V chuyển nhượng cho ông T và bà N phần đất diện tích 11.764,6m2, thửa 75, số tiền chuyển nhượng là 650 triệu đồng. Tuy nhiên, giao dịch giữa bà N và ông Đ, ông V, ông T và bà N, Ngân hàng T không ai có yêu cầu gì, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết, trường hợp có tranh chấp sẽ được giải quyết ở vụ án khác.
Xét, ông T với ông Đ và bà N có xác lập Tờ giao kèo cố đất ngày 09/03/2015 âl, về việc ông Đ và bà N cố cho ông T phần đất ruộng 07 công tầm 3 mét (9.072m2), nằm trong phần đất 11.764,6m2, để bà N và ông Đ nhận vàng cố của ông T là 50 chỉ vàng 24 kara là thực tế, được các bên thừa nhận. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 167 của Luật Đất đai năm 2013 (nay là Điều 27 của Luật Đất đai năm 2024), người sử dụng đất không có quyền cầm cố, cho nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T, tuyên bố giao dịch cầm cố đất giữa ông Đ và bà N với ông T được xác lập tại Tờ giao kèo cố đất ngày 09/03/2015 âl là vô hiệu tại Điều 122 của Bộ luật Dân sự năm 2015, căn cứ Điều 131 của Bộ luật Dân sự năm 2015 xử lý hậu quả hợp đồng vô hiệu, buộc ông Đ và bà N trả cho ông T 50 chỉ vàng 24 kara. Đối với phần đất cố, thì ông T xác định đã giao trả cho bà N và ông Đ từ tháng 01/2025 đến nay, ông T không còn quản lý, không buộc ông T giao trả đất cho ông Đ và bà N.
Xét, đề nghị của Viện kiểm sát là có cơ sở được chấp nhận.
[3]Về án phí:
-Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T, ông T được nhận lại tiền tạm ứng án phí số tiền là 300.000 đồng.
-Buộc bà N và ông Đ phải nộp án phí, như sau:
+ Án phí dân sự không có giá ngạch số tiền 300.000 đồng (do chấp nhận yêu cầu ông T, tuyên bố vô hiệu Tờ giao kèo cố đất ngày 09/03/2015 âl).
+ Án phí dân sự có giá ngạch số tiền 25.240.000 đồng (buộc bà N và ông Đ trả cho ông T 50 chỉ vàng 24 kara x 10.620.000 đồng/1 chỉ vàng 24kara = 531.000.000 đồng = 20.000.000 đồng + 4% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt 400 triệu đồng/5.240.000 đồng).
Như vậy, tổng số tiền buộc bà N và ông Đ phải nộp là 25.540.000 đồng, theo quy định tại khoản 5 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, khoản 2 Điều 26, điểm b, khoản 3 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ:
-Các điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
-Các điều 117, 122, 123, 131 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
-Các điều 30, 37 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
-Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử:
1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hồ Văn T.
Tuyên bố hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất được ký kết giữa ông Hồ Văn T với bà Đỗ Thị N và ông Nguyễn Văn Đ, được xác lập tại Tờ giao kèo cố đất ngày 09/03/2015 âl, là vô hiệu.
Buộc bà Đỗ Thị N và ông Nguyễn Văn Đ trả cho ông Hồ Văn T số vàng là 50 (năm mươi) chỉ vàng 24 (hai mươi bốn) kara.
2/ Về án phí:
Ông Hồ Văn T được nhận lại tiền tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), tại Biên lai thu 0005119 ngày 10/01/2025 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
Buộc bà Đỗ Thị N và ông Nguyễn Văn Đ phải nộp án phí dân sự số tiền 25.540.00đồng (Hai mươi lăm triệu năm trăm bốn mươi ngàn đồng).
3/ Về quyền kháng cáo:
-Ông Hồ Văn T, bà Đoàn Tuyết N được quyền kháng cáo bản án này trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
-Đối với bà Đỗ Thị N, ông Nguyễn Văn Đ, ông Nguyễn Quốc V, Ngân hàng T - Chi nhánh Cà Mau - phòng giao dịch Sông Đốc vắng mặt, được quyền kháng cáo bản án này trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
“Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
Bản án về tranh chấp hợp đồng cố đất số 53/2025/DS-ST ngày 29/07/2025
| Số hiệu: | 53/2025/DS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Thành phố Cà Mau - Cà Mau |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Ngày ban hành: | 29/07/2025 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về