TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI, TỈNH ĐỒNG THÁP
Bản án số 152/2024/DS-ST ngày 22/08/2024 về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại
Trong các ngày 27/6/2024, ngày 15/7/2024, ngày 22/7/2024 và ngày 22/8/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 1061/2023/TLST-DS ngày 20/12/2023, về việc “Tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng vay tài sản và thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 222/2024/QĐXXST-DS ngày 07/6/2024, giữa:
1. Nguyên đơn: Ông Võ Hoàng G, sinh năm 1969; Địa chỉ: Khóm A, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp;
Người đại diện theo ủy quyền: Anh Nguyễn Tý H, sinh năm 1990. Địa chỉ: Số B, quốc lộ C, phường M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp. Theo văn bản ủy quyền ngày 21/02/2022.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Trọng N, sinh năm 1997; Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
(Anh H có mặt, anh N vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện, ý kiến tại phiên tòa sơ thẩm anh H trình bày: Vào ngày 22/9/2018, ông G có cho bà C mượn số tiền là 20.000.000 đồng, thời hạn trả là 01 tháng kể từ ngày mượn. Ngày 25/12/2018, ông G cho bà C vay số tiền là 55.000.000 đồng, lãi suất là 3%/tháng/toàn bộ số tiền vay, thời hạn trả là 02 tháng kể từ vay. Ngày 04/02/2019, ông G cho bà C vay tiếp số tiền là 150.000.000 đồng, lãi suất là 2%/tháng/toàn bộ số tiền vay, thời hạn trả là 02 tháng kể từ vay. Như vậy, tổng số tiền vay là 225.000.000 đồng.
Vào ngày 28/9/2018, ông G có nhận chuyển nhượng của bà C 1/2 diện tích phần đất thuộc thừa số 2120, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp M, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, giá chuyển nhượng là 505.000.000 đồng. Hai bên thỏa thuận thanh toán cụ thể như sau: Ngày 28/9/2018, ông G sẽ đặt cọc trước 105.000.000 đồng và ông G đã giao đủ số tiền này cho bà C; Ngày 14/10/2018, ông G sẽ giao tiếp số tiền là 30.000.000 đồng và ông G đã giao đủ số tiền này cho bà C; Số tiền còn lại là 370.000.000 đồng ông G sẽ thanh toán ngay sau khi hoàn thành xong thủ tục chuyển nhượng. Hiện nay, bà C đã chết, anh N là con ruột duy nhất của bà C đã làm thủ tục thừa kế và đã được đứng tên phần đất này. Đối với số tiền cho vay và chuyển nhượng đất trên là tài sản của cá nhân ông G, không phải là tài sản chung với bất kỳ ai.
Theo đơn khởi kiện thi ông G yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh N tiếp tục hợp đồng làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất số BO 190562, thuộc thừa số 2120, tờ bản đồ số 01 cho ông G như đã thỏa thuận trước đây theo hợp đồng chuyển nhượng đất ngày 28/9/2018. Đồng thời, buộc anh N phải có nghĩa vụ trả cho ông G số tiền nợ vay vốn là 225.000.000 đồng và tiền lãi với mức lãi suất là 20%/năm, tạm tính đến ngày 21/02/2022, thành tiền là 126.257.534 đồng, tổng cộng là 351.257.534 đồng. Đồng thời, yêu cầu tính lãi cho đến ngày xét xử sơ thẩm. Nay, ông G xin thay đổi yêu cầu là yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh N (Là người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà C) thực hiện nghĩa vụ của người chết để lại trong phạm vi tài sản là phần đất thuộc thừa số 2120, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp M, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, cụ thể:
- Chấm dứt hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 28/9/2018 giữa ông G với bà C, buộc anh N trả lại số tiền thỏa thuận chuyển nhượng đất mà bà C đã nhận của ông G là 135.000.000 đồng và tiền lãi với mức lãi suất là 0,83%/tháng, chỉ tính từ ngày 15/11/2018 đến ngày 15/7/2024 là 68 tháng, thành tiền là 135.000.000 đồng x 0,83%/tháng x 68 tháng = 76.194.000 đồng.
- Buộc anh N phải trả số tiền nợ vay vốn của bà C là 20.000.000 đồng theo hợp đồng vay ngày 22/9/2018 (Âm lịch) và không yêu cầu tính lãi.
- Buộc anh N phải trả số tiền nợ vay vốn của bà C là 55.000.000 đồng theo hợp đồng vay ngày 25/12/2018 (Âm lịch) và tiền lãi với mức lãi suất là 1,66%/tháng, chỉ tính từ ngày 01/4/2019 (Nhằm ngày 25/02/2019 âm lịch) đến nay làm tròn 64 tháng, thành tiền là 55.000.000 đồng x 1,66%/tháng x 64 tháng = 58.432.000 đồng.
- Buộc anh N phải trả số tiền nợ vay vốn của bà C là 150.000.000 đồng theo hợp đồng vay ngày 04/02/2019 (Âm lịch) và tiền lãi với mức lãi suất là 1,66%/tháng, chỉ tính từ ngày 08/5/2019 (Nhằm ngày 04/4/2019 âm lịch) đến nay làm tròn 63 tháng, thành tiền là 150.000.000 đồng x 1,66%/tháng x 63 tháng = 156.870.000 đồng. Ngoài ra, ông G không còn trình bày hoặc yêu cầu gì khác.
* Đối với anh N mặc dù đã được Tòa án thông báo, triệu tập hợp lệ nhưng không tham gia phiên hợp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải, phiên tòa sơ thẩm và cũng không có văn bản ý kiến gì.
* Ý kiến và đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười:
- Về việc bảo đảm việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử chấp hành tốt pháp luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến tại thời điểm trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, cũng như việc chấp hành các quy định về tố tụng dân sự và thực hiện các quyền, nghĩa vụ về tố tụng dân sự của các đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án được thực hiện đúng và đầy đủ nên Viện kiểm sát không có ý kiến, kiến nghị gì.
- Về nội dung vụ án: Căn cứ các Điều 423, 463, 468, 609, 611, 612, 613, 614, 615 của Bộ luật dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Chấp nhận 01 phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
+ Hủy hợp đồng chuyển nhượng ngày 28/9/2018 giữa ông G với bà C về việc thỏa thuận chuyển nhượng 01 phần diện tích của thửa số 2120, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp M, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
+ Buộc người thừa kế di sản của bà C là anh N có trách nhiệm trả cho ông G tổng số tiền 360.000.000 đồng. Buộc trả lãi khoản vay 55.000.000 đồng từ ngày vay là ngày 25/12/2018 âm lịch đến ngày xét xử, mức lãi suất là 1,66%/tháng. Buộc trả lãi khoản vay 150.000.000 đồng từ ngày vay là ngày 04/02/2019 âm lịch đến ngày xét xử, mức lãi suất là 1,66%/tháng trong phạm vi di sản do bà C để lại.
* Các tình tiết, sự kiện trong vụ án các bên đương sự thống nhất: Không.
* Các tình tiết mà các bên đương sự không thống nhất: Toàn bộ vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về quan hệ pháp luật: Ông G yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh N (Là người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà C) thực hiện nghĩa vụ của người chết để lại trong phạm vi tài sản là phần đất thuộc thừa số 2120, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp M, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, cụ thể: Thứ nhất: Chấm dứt hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 28/9/2018 giữa ông G với bà C, buộc anh N trả lại số tiền thỏa thuận chuyển nhượng đất mà bà C đã nhận của ông G là 135.000.000 đồng và tiền lãi với mức lãi suất là 0,83%/tháng, chỉ tính từ ngày 15/11/2018 đến ngày 15/7/2024 là 68 tháng, thành tiền là 135.000.000 đồng x 0,83%/tháng x 68 tháng = 76.194.000 đồng; Thứ hai: Buộc anh N phải trả số tiền nợ vay vốn của bà C là 20.000.000 đồng theo hợp đồng vay ngày 22/9/2018 và không yêu cầu tính lãi; Thứ ba: Buộc anh N phải trả số tiền nợ vay vốn của bà C là 55.000.000 đồng theo hợp đồng vay ngày 25/12/2018 (Âm lịch) và tiền lãi với mức lãi suất là 1,66%/tháng, chỉ tính từ ngày 01/4/2019 (Nhằm ngày 25/02/2019 âm lịch) đến nay làm tròn 64 tháng, thành tiền là 55.000.000 đồng x 1,66%/tháng x 64 tháng = 58.432.000 đồng; Thứ tư: Buộc anh N phải trả số tiền nợ vay vốn của bà C là 150.000.000 đồng theo hợp đồng vay ngày 04/02/2019 (Âm lịch) và tiền lãi với mức lãi suất là 1,66%/tháng, chỉ tính từ ngày 08/5/2019 (Nhằm ngày 04/4/2019 âm lịch) đến nay làm tròn 63 tháng, thành tiền là 150.000.000 đồng x 1,66%/tháng x 63 tháng = 156.870.000 đồng. Ngoài ra, các đương sự không ai có yêu cầu nào khác nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng vay tài sản và thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại” theo quy định tại Điều 463, Điều 500 và Điều 615 của Bộ luật dân sự.
[2] Về thẩm quyền: Tranh chấp trên giữa các đương sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3, 5 và 9 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự. Đồng thời, bị đơn đang cư trú tại ấp M, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về tố tụng:
- Theo quyết định tạm ngưng phiên tòa thì Hội thẩm nhân dân chính thức là ông Lê Văn V và bà Hồ Thị T. Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm do bà T bận đi công việc đột xuất nên không thể tham gia phiên tòa được thay thế bằng ông Nguyễn Văn Á là Hội thẩm nhân dân dự khuyết. Đương sự có mặt thống nhất đồng ý việc thay đổi này và không có khiếu nại gì. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
- Đối với anh N vắng mặt nhiều lần không có lý do chính đáng. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với anh N.
[4] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Đối với tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông G với bà C. Xét thấy, lời trình bày của phía ông G là có cơ sở, vì: Theo “Hợp đồng chuyển nhượng đất ngày 28/9/2018” có chữ ký, chữ viết họ, tên Võ Hoàng G và Nguyễn Thị C1, nội dung hợp đồng trên thể hiện bà C1 có chuyển nhượng cho ông G ½ diện tích của thửa đất số 2120, tờ bản đồ số 01, với giá chuyển nhượng là 505.000.000 đồng và bà C1 đã nhận trước số tiền là 135.000.000 đồng. Do đó, có đủ cơ sở xác định việc bà C1 đã chuyển nhượng phần đất trên cho ông G.
- Anh Hùng trình bày là bà C1 có thực hiện như hai bên đã thỏa thuận, bà C1 có làm thủ tục sang tên qua cho ông G đứng tên nhưng do không đủ diện tích tách thửa nên không sang tên được và đến năm 2022 thì bà C1 chết nên đến nay hợp đồng này vẫn chưa thực hiện được. Xét thấy, lý do hai bên không thực hiện được tiếp hợp đồng chuyển nhượng trên là do bà C1 đã chết (Chết ngày 09/01/2022). Nay, ông G yêu cầu chấm dứt hợp đồng chuyển nhượng trên là phù hợp với quy định tại Điều 422 và 428 của Bộ luật dân sự.
- Về việc giải quyết hậu quả của việc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng, theo quy định tại vào Điều 428 của Bộ luật dân sự:
“1. Một bên có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại khi bên kia vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trong hợp đồng hoặc các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.
2. Bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng phải thông báo ngay cho bên kia biết về việc chấm dứt hợp đồng, nếu không thông báo mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.
3. Khi hợp đồng bị đơn phương chấm dứt thực hiện thì hợp đồng chấm dứt kể từ thời điểm bên kia nhận được thông báo chấm dứt. Các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ, trừ thỏa thuận về phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và thỏa thuận về giải quyết tranh chấp. Bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán phần nghĩa vụ đã thực hiện.
4. Bên bị thiệt hại do hành vi không thực hiện đúng nghĩa vụ trong hợp đồng của bên kia được bồi thường.
5. Trường hợp việc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng không có căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này thì bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng được xác định là bên vi phạm nghĩa vụ và phải thực hiện trách nhiệm dân sự theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan do không thực hiện đúng nghĩa vụ trong hợp đồng".
+ Xét theo quy định trên thì bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán phần nghĩa vụ đã thực hiện, cụ thể: Đối với bà C1 đã nhận của ông G tổng số tiền là 135.000.000 nên bà C1 phải trả lại số tiền này cho ông G. Đối với phần đất chuyển nhượng thì ông G trình bày là bà C1 chưa giao cho ông G sử dụng, hiện nay anh N là người đang đứng tên và quản lý, sử dụng phần đất này. Đối với ông G chưa có bị thiệt hại gì nên không yêu cầu bồi thường gì, còn anh N thì không có ý kiến hoặc yêu cầu gì. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét giải quyết.
+ Theo “Hợp đồng chuyển nhượng đất ngày 28/9/2018” hai bên có thỏa thuận ở phần cam kết chung “Hai bên tích cực tiến hành làm thủ tục giấy tờ chuyển nhượng. Bên mua nếu bỏ không sẽ mất tiền cọc. Bên bán nếu gây khó khăn, không chịu ký tên sang nhượng sẽ bồi thường gấp đôi tiền cọc”. Xét thấy, hai bên có thỏa thuận về phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại. Anh H trình bày là bà C1 đã làm thủ tục sang tên qua cho ông G nhưng do diện tích phần đất chuyển nhượng không đủ để tách thừa nên không sang tên được, anh H xác định bà C1 đã thực theo đúng thỏa thuận, còn lý do hai bên không thực hiện tiếp hợp đồng là do bà C1 chết. Như vậy, có đủ cơ sở xác định bà C1 đã thực hiện đúng thỏa thuận giữa hai bên và không có vi phạm gì. Do đó, nay ông G yêu cầu anh N trả tiền lãi chậm trả trên số tiền 135.000.000 đồng, với mức lãi suất là 0,83%/tháng, chỉ tính từ ngày 15/11/2018 đến ngày 15/7/2024 là 68 tháng, thành tiền là 135.000.000 đồng x 0,83%/tháng x 68 tháng = 76.194.000 đồng là không có cơ sở.
- Đối với tranh chấp về hợp đồng vay tài sản giữa ông G với bà C1. Xét thấy, lời trình bày của ông G là có cơ sở và việc ông G có cho bà C1 vay tiền là có thật, thể hiện qua “Hợp đồng vay ghi ngày 22/9/2018, ngày 25/12/2018 và ngày 04/02/2019”, theo nội dung các hợp đồng trên thể hiện số tiền vay lần lượt là 20.000.000 đồng, 55.000.000 đồng và 150.000.000 đồng, có chữ ký, chữ viết họ, tên Nguyễn Thị C1. Đồng thời, cũng thể hiện rõ thời hạn trả nợ lần lượt là ngày 22/10/2018, ngày 25/02/2019 và ngày 04/4/2019. Do đó, có đủ cơ sở xác định đây là hợp đồng vay có thời hạn và đến nay hợp đồng vay đã quá hạn, phía bà C1 chưa trả nợ cho ông G là đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo quy định tại Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự.
- Đối với yêu cầu tính lãi của ông G, cụ thể:
+ Đối với khoản vay vốn 20.000.000 đồng, ông G không yêu cầu tính lãi. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét giải quyết.
+ Đối với khoản vay vốn 55.000.000 đồng, ông G yêu cầu tính lãi với mức lãi suất là 1,66%/tháng, chỉ tính từ ngày 01/4/2019 (Nhằm ngày 25/02/2019 âm lịch) đến nay làm tròn 64 tháng, thành tiền là 55.000.000 đồng x 1,66%/tháng x 64 tháng = 58.432.000 đồng. Xét thấy, theo nội dung “Hợp đồng vay ngày 25/12/2018 âm lịch” có thể hiện thỏa thuận tính lãi với mức lãi suất là 3%/tháng. Do đó, có đủ cơ sở xác định khi vay hai bên có thỏa thuận việc trả lãi với mức lãi suất là 3%/tháng. Theo Điều 468 của Bộ luật dân sự quy định: “1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm …”. Như vậy, mức lãi suất theo quy định trong trường hợp này là 20%/năm tương đương 1,666%/tháng. Nay, ông G yêu cầu mức lãi suất 1,66%/tháng đối chiếu với quy định trên là phù hợp. Đồng thời, theo nội dung hợp đồng vay trên cũng thể hiện rõ thời hạn trả nợ là ngày 25/02/2029 âm lịch (Nhằm ngày 01/4/2019 dương lịch). Nay, ông G yêu cầu tính lãi từ ngày 01/4/2019 đến nay là phù hợp. Như vậy, số tiền lãi mà bà C1 phải trả cho ông G cụ thể: 55.000.000 đồng x 1,66%/tháng x 64 tháng = 58.432.000 đồng.
+ Đối với khoản vay vốn 150.000.000 đồng, ông G yêu cầu tính lãi với mức lãi suất là 1,66%/tháng, chỉ tính từ ngày 08/5/2019 (Nhằm ngày 04/4/2019 âm lịch) đến nay làm tròn 63 tháng, thành tiền là 150.000.000 đồng x 1,66%/tháng x 63 tháng = 156.870.000 đồng. Xét thấy, theo nội dung “Hợp đồng vay ngày 04/02/2019 âm lịch” có thể hiện thỏa thuận tính lãi với mức lãi suất là 2%/tháng. Do đó, có đủ cơ sở xác định khi vay hai bên có thỏa thuận việc trả lãi với mức lãi suất là 2%/tháng. Theo Điều 468 của Bộ luật dân sự quy định: “1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm …”. Như vậy, mức lãi suất theo quy định trong trường hợp này là 20%/năm tương đương 1,666%/tháng. Nay, ông G yêu cầu mức lãi suất 1,66%/tháng đối chiếu với quy định trên là phù hợp. Đồng thời, theo nội dung hợp đồng vay trên cũng thể hiện rõ thời hạn trả nợ là ngày 04/4/2029 âm lịch (Nhằm ngày 08/5/2019 dương lịch). Nay, ông G yêu cầu tính lãi từ ngày 08/5/2019 đến nay là phù hợp. Như vậy, số tiền lãi mà bà C1 phải trả cho ông G cụ thể: 150.000.000 đồng x 1,66%/tháng x 63 tháng = 156.870.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền mà bà C1 phải trả lại cho ông G là 575.302.000 đồng.
- Đối với bà C1 là người phải có nghĩa vụ trả lại cho ông G số tiền trên nhưng bà C1 đã chết vào ngày 09/01/2022. Theo “Văn bản nhận tài sản thừa kế ngày 18/02/2022 của anh N” thể hiện anh N là người thừa kế duy nhất theo pháp luật của bà C1 (Cha của bà C1 tên Nguyễn Văn T1, mẹ của bà C1 tên Đinh Thị S và chồng của bà C1 tên Nguyễn Văn T2 đều đã chết). Đồng thời, anh N đã làm thủ tục thừa kế và đã được đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất của bà C1 để lại diện tích 461,2m2, thuộc thừa số 61, tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại áp M, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Theo “Hợp đồng chuyển nhượng đất ngày 28/9/2018” thì giá chuyển nhượng là 505.000.000 đồng/230,6m2. Như vậy, có đủ cơ sở xác định giá trị của toàn bộ phần đất này là 1.010.000.000 đồng. Theo Điều 615 của Bộ luật dân sự quy định “1. Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác ...”. Nay, ông G yêu cầu anh N trả thay cho bà C1 tổng số tiền 575.302.000 đồng, số tiền yêu cầu này nằm trong phạm vi di sản bà C1 để lại cho anh N. Do đó, xét thấy yêu cầu của ông G là có cơ sở.
- Đối với anh N mặc dù đã được Tòa án thông báo, triệu tập hợp lệ nhưng không tham gia phiên hợp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải, các phiên tòa sơ thẩm và cũng không có văn bản ý kiến đồng ý hay phản đối gì đối với lời trình bày và yêu cầu của ông G.
[5] Từ những phân tích trên, xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ 01 phần nên Hội đồng xét xử chấp nhận 01 phần.
[6] Đối với đương sự còn lại không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét giải quyết.
[7] Tại phiên tòa sơ thẩm, đương sự có mặt xác định ngoài lời trình bày và các chứng cứ đã nộp cho Tòa án ra thì đương sự có mặt không còn chứng cứ nào khác để chứng minh cho yêu cầu của mình và cũng không yêu cầu Tòa án thu thập thêm chứng cứ nào khác. Ngoài ra, cũng không còn yêu cầu gì khác.
[8] Về lệ phí: Tại phiên tòa sơ thẩm, phía ông G tự nguyện chịu toàn bộ lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng trong vụ án này và tổng chi phí trên là 12.000.000 đồng. Đồng thời, ông G đã tạm ứng trước và đã chỉ xong.
[9] Về án phí: Ông G và anh N phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[10] Về đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười:
- Về việc bảo đảm việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử chấp hành tốt pháp luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến tại thời điểm trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, cũng như việc chấp hành các quy định về tố tụng dân sự và thực hiện các quyền, nghĩa vụ về tố tụng dân sự của các đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án được thực hiện đúng và đầy đủ nên Viện kiểm sát không có ý kiến, kiến nghị gì. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét giải quyết.
- Về đề nghị nội dung giải quyết vụ án thì từ những phân tích trên, xét đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 422, Điều 428, Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 500, Điều 615 của Bộ luật dân sự; Khoản 3, 5 và 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 180, khoản 2 Điều 227, Điều 235, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận 01 phần yêu cầu khởi kiện của ông Võ Hoàng G.
- Tuyên bố chấm dứt thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 28/9/2018 giữa ông Võ Hoàng G với bà Nguyễn Thị C1 đối với phần đất diện tích 230,6m2, thuộc 01 phần thừa số 61, tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại ấp M, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho anh Nguyễn Trọng N vào ngày 15/3/2022.
- Anh N phải có nghĩa vụ trả lại cho ông G số tiền mà bà C1 đã nhận khi chuyển nhượng là 135.000.000 đồng (Một trăm ba mươi lăm triệu đồng).
- Anh N phải có nghĩa vụ trả lại cho ông G số tiền nợ vay vốn của bà C1 tổng cộng là 225.000.000 đồng (Hai trăm hai mươi lăm triệu đồng) và tiền lãi tổng cộng là 215.302.000 đồng (Hai trăm mười lăm triệu, ba trăm lẻ hai nghìn đồng).
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (Đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (Đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án), bên phải thi hành án chưa thi hành xong thi hàng tháng còn phải chịu lãi bằng 50% mức lãi suất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án đến khi thi hành án xong.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông G đối với yêu cầu trả lãi trên số tiền 135.000.000 đồng, với mức lãi suất là 0,83%/tháng, chỉ tính từ ngày 15/11/2018 đến ngày 15/7/2024 là 68 tháng, thành tiền là 135.000.000 đồng x 0,83%/tháng x 68 tháng = 76.194.000 đồng.
3. Về lệ phí: Ông G tự nguyện chịu 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng) tiền lệ phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng và ông G đã nộp xong.
4. Về án phí:
- Ông G phải chịu 3.810.000 đồng (Ba triệu, tám trăm mười nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0002847, ngày 19/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp. Ông G được hoàn trả lại số tiền chênh lệch là 5.271.000 đồng (Năm triệu, hai trăm bảy mươi mốt nghìn đồng).
- Anh N phải chịu 27.012.000 đồng (Hai mươi bảy triệu, không trăm mười hai nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
5. Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Bản án về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại số 152/2024/DS-ST
| Số hiệu: | 152/2024/DS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Tháp Mười - Đồng Tháp |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Ngày ban hành: | 22/08/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về