TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH HƯNG, TỈNH LONG AN
BẢN ÁN 41/2024/DS-ST NGÀY 29/08/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
Trong ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 04/2024/TLST-DS ngày 04 tháng 01 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất liên quan đến tài sản thi hành án” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2024/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Ông Huỳnh Văn Đ, sinh năm 1979.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Huỳnh Văn Đ là: Bà Lê Thị Cẩm L, sinh năm 1980 (có mặt).
2. Bà Lê Thị Cẩm L, sinh năm 1980 (có mặt) Cùng địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện V, tỉnh Long An.
- Bị đơn: Bà Huỳnh Thị Ngọc K, sinh năm 1980.
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện V, tỉnh Long An (vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Thị Đ1, sinh năm 1972.
Địa chỉ: Số B, ấp T, xã T, huyện V, tỉnh Long An (có mặt).
2. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1983.
Địa chỉ: Số A, ấp C, xã T, huyện V, tỉnh Long An (có mặt).
3. Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Hưng. Địa chỉ: Đường C, khu phố M, thị trấn V, huyện V, tỉnh Long An.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn V - Chi cục Trưởng (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Về yêu cầu và lời trình bày của nguyên đơn:
Theo đơn khởi kiện để ngày 25/12/2023, đơn khởi kiện bổ sung ngày 30/5/2024 và lời trình bày của nguyên đơn thể hiện như sau: Yêu cầu Tòa án giải quyết Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng (sau đây viết là QSD) đất “Giấy hợp đồng mua bán đất” lập ngày 13/7/2022 giữa ông Đ với bà K. Đồng thời, yêu cầu bà K phải thực hiện thủ tục chuyển QSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất cho vợ chồng bà, đối với diện tích diện tích 7.153m[2], thừa 59, tờ bản đồ số 7, loại đất trồng lúa nước, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện V, tỉnh Long An. Tại phiên tòa nguyên đơn yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng QSD đất nêu trên, buộc bà K phải trả lại số tiền 450.000.000 đồng tiền chuyển nhượng đất. Về nội dung tranh chấp được trình bày cụ thể như sau:
Vào tháng 7 năm 2022, vợ chồng bà có nhận chuyển nhượng của bà K đất nông nghiệp diện tích 7.153m2, thừa 59, tờ bản đồ số 7, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện V, tỉnh Long An; theo giấy chứng nhận QSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền đất số DB 424826 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh L cấp ngày 22/6/2021 cho bà K. Giá chuyển nhượng là 450.000.000 đồng, trả trước 200.000.000 đồng, khi làm thủ tục chuyển QSD đất cho vợ chồng bà thì giao số tiền 250.000.000 đồng còn lại. Sau khi thỏa thuận xong, hai bên có viết “Giấy hợp đồng mua bán đất" ngày 13/7/2022, có người làm chứng là bà Âu Thị Kiều L1. Vợ chồng bà đã nhận đất sử dụng sản xuất lúa và bên bà K giao bản chính giấy chứng nhận QSD đất, cho vợ chồng bà giữ. Vào ngày 21/7/2023, vợ chồng bà và bà K đến UBND xã T để ký hợp đồng chuyển nhượng QSD đất nhưng vì anh em nên cán bộ địa chính xã đã làm “Hợp đồng tặng cho QSD đất" để không phải nộp thuế, vợ chồng bà đã trả đủ cho bà K số tiền 250.000.000 đồng còn lại. Sau đó, cán bộ địa chính xã báo là không thể làm thủ tục chuyển QSD đất được, lý do Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Hưng ra Quyết định “Về việc cưỡng chế kê biên QSD đất" của bà K, đối với diện tích 7.153m2, thừa 59, tờ bản đồ số 7 vì bà K thiếu nợ bà Đ1. Diện tích đất tranh chấp hiện nay vợ chồng bà đang quản lý sử dụng, trước đây có cho ông Tăng Minh T thuê 01 năm và đã hết hạn hợp đồng. Về giá trị quyền sử dụng đất, thống nhất toàn bộ chứng thư thẩm định giá số 08052407-BĐS/BT-HN ngày 08/5/2024 của công ty TNHH Đ2 và không yêu cầu định giá lại hoặc định giá bổ sung, giá đất là 63.000đồng/01 m2.
- Về ý kiến, yêu cầu và trình bày của bị đơn bà K: Đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do và không có văn bản thể hiện ý kiến gửi Tòa án.
- Về người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đ1 thống nhất đối với yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng QSD đất của ông Đ, bà L, vì các lý do như sau: Căn cứ theo Bản án số 279/2021/DS-PT ngày 30/12/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An về việc buộc bà K có nghĩa vụ trả cho bà tổng số tiền 345.561.000 đồng gồm 248.370.000 đồng tiền vay gốc và 97.191.000 đồng tiền lãi. Bà có đơn yêu cầu thi hành án và Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Hưng đã ban hành các quyết định: số 198/QĐ-CCTHADS ngày 21/01/2023 về việc thi hành án theo đơn yêu cầu; số 05/QĐ-CCTHADS ngày 21/11/2023 về việc kê biên xử lý tài sản của bà K tại thửa đất số 59, tờ bản đồ số 7, diện tích 7.153m[2], loại đất lúa. Đến ngày 04/01/2024 bà nhận được thông báo về việc thụ lý vụ án của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng về việc bà L, ông Đ tranh chấp diện tích đất nêu trên. Bà thống nhất chứng thư thẩm định giá số 08052407BĐS/BT-HN ngày 08/5/2024 của công ty TNHH Đ2 và không yêu cầu định giá lại hoặc định giá bổ sung, giá đất của thửa 59 là 63.000đồng/01 m2 - Về ý kiến, yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà N: Thống nhất yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì bà K có nghĩa vụ trả cho bà số tiền 406.306.000 đồng gốc và lãi theo Quyết định số 01/2024/QĐST-DS ngày 10/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng. Bà thống nhất kết quả định giá thửa đất tranh chấp là 63.000đồng/01m2. Không có yêu cầu gì trong vụ án.
- Về ý kiến của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Hưng: Không có yêu cầu trong vụ án, đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt và tại văn bản số 206/CCTHADS ngày 29/5/2024 cùng tài liệu chứng cứ kèm theo thể hiện các nội dung như sau: Bà K có các quyết định phải thi hành gồm: Bản án số 279/2021/DS-ST ngày 30/12/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An trả cho bà Đ1 345.561.000 đồng, bà K đã nộp được 100.000.000 đồng; Quyết định số 01/2024/QĐST-DS ngày 10/01/2024 trả cho bà N số tiền 406.306.000 đồng; cùng với lãi suất do chậm thi hành án - Về ý kiến và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát:
Về việc tuân theo pháp luật: Từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn chưa chấp hành đúng.
Về nội dung vụ án: Ông Đ, bà L và bà K thỏa thuận chuyển nhượng QSD đất, giữa các bên tuy có lập giấy tay là “Giấy hợp đồng mua bán đất lập ngày 13/7/2022” nhưng các bên không thực hiện hợp đồng theo đúng quy định pháp luật và cũng chưa thực hiện thủ tục đăng ký ở cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận QSD đất nên theo quy định pháp luật thì giao dịch mua bán đất giữa ông Đ, bà L và bà K đã vi phạm về hình thức. Hơn nữa, tại công văn số 206/CCTHADS ngày 29/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Hưng thì tại thời điểm bà K thỏa thuận chuyển nhượng diện tích đất cho ông Đ, bà L (ngày 13/7/2022) thì bà K đã phải thực hiện nghĩa vụ bằng một bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, tổng số tiền phải thi hành án hiện nay là 651.867.000 đồng và lãi phát sinh do chậm thi hành án. Ngày 21/11/2023, cơ quan thi hành án dân sự cũng đã ra quyết định cưỡng chế kê biên đối với tài sản là thửa đất số 59, tờ bản đồ số 7, diện tích 7.153m2. Như vậy, thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Đ, bà L với bà K đã vi phạm về hình thức lẫn nội dung nên yêu cầu của ông Đ, bà L là có căn cứ chấp nhận; ý kiến của bà Đ1, bà N có căn cứ chấp nhận.
Đối với hợp đồng tặng cho QSD đất giữa bà K với ông Đ đối với diện tích đất 7.153m2: Bà L trình bày do ông Đ với bà K là anh em ruột nên để không phải đóng thuế thì bà K và ông Đ lập hợp đồng tặng cho (giả cách của hợp đồng chuyển nhượng QSD đất) nên căn cứ Điều 124 Bộ luật Dân sự cần tuyên hủy hợp đồng này.
Về giải quyết hậu quả giao dịch dân sự vô hiệu: Theo Điều 131 Bộ luật Dân sự quy định về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu như sau “Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả. Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó. Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường”. Do đó, buộc bà K hoàn trả cho ông Đ, bà L số tiền 450.000.000 đồng; buộc ông Đ, bà L giao trả lại diện tích đất 7.153m2 thuộc thửa đất số 59, tờ bản đồ số 7 và bản chính giấy chứng nhận QSD đất cho bà K. Về bồi thường thiệt hại: Bà L, ông Đ không có yêu cầu nên đề nghị không xem xét về bồi thường thiệt hại.
Từ những phân tích trên, căn cứ Điều 26; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các điều 116, 117, 119, 124, 129, 131, 500, 501, 502 Bộ luật Dân sự; Điều 188 Luật Đất đai; Điều 75 Luật Thi hành án dân sự, đề nghị: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất liên quan đến tài sản thi hành án”: Hủy “Giấy hợp đồng mua bán đất lập ngày 13/7/2022” và “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất” giữa ông Đ với bà K đối với diện tích đất 7.153m2 thuộc thửa đất số 59, tờ bản đồ số 7. Buộc bà K hoàn trả cho ông Đ, bà L số tiền 450.000.000 đồng. Buộc ông Đ, bà L giao trả lại diện tích đất 7.153m2 và bản chính giấy chứng nhận QSD đất thuộc thửa đất số 59, tờ bản đồ số 7 cho bà K.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:
Ngày 21/11/2023, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Hưng ban hành quyết định số 05/QĐ-CCTHADS về việc cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản, tài sản kê biên gồm: diện tích 7.153m[2], thừa 59, tờ bản đồ số 7, loại đất trồng lúa nước, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện V, tỉnh Long An; Nay các đương sự tranh chấp liên quan các diện tích đất bị kê biên nêu trên nên Tòa án xác định đây là tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất liên quan đến việc thi hành án được quy định tại Điều 75 Luật Thi hành án dân sự; Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 12 Điều 26, khoản 1 Điều 35, Điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về tố tụng: Chi cục thi hành án dân sự huyện V vắng mặt tại phiên tòa có đơn xin xét xử vắng mặt, đối với bị đơn bà K vắng mặt tại phiên tòa không có lý do nhưng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nên căn cứ vào Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự Tòa án mở phiên xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.
[3] Các đương sự có mặt tại phiên tòa thống nhất Chứng thư thẩm định giá số 08052407-BĐS/BT-HN ngày 08/5/2024 của công ty TNHH Đ2, giá đất tranh chấp là 63.000đồng/01m2; thống nhất mảnh trích đo địa chính số 24-2024 ngày 02/4/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ3 tại huyện V. Vì vậy, các tài liệu này được dùng làm căn cứ giải quyết vụ án.
[4] Tháng 7 năm 2022, ông Đ, bà L và bà K có thỏa thuận chuyển nhượng đất nông nghiệp diện tích 7.153m2, thừa 59, tờ bản đồ số 7, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện V, tỉnh Long An. Ông Đ, bà L đã giao đủ tiền và nhận đất sản xuất từ khi thỏa thuận chuyển nhượng cho đến nay nhưng các bên không tuân thủ hình thức hợp đồng mà chỉ lập giấy tay có tiêu đề “Giấy hợp đồng mua bán đất" ngày 13/7/2022. Đồng thời, từ ngày 30/12/2021 bà K đã được xác định có nghĩa vụ phải thi hành án bằng Bản án có hiệu lực pháp luật số 279/2021/DS-ST của Tòa án nhân dân tỉnh Long An; ngày 21/11/2023, cơ quan thi hành án dân sự cũng đã ra quyết định cưỡng chế kê biên đối với tài sản là QSD đất nêu trên. Theo quy định tại khoản 1 Điều 24 Nghị định 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự: “Kể từ thời điểm bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, nếu người phải thi hành án chuyển đổi, tặng cho, bán, chuyển nhượng, thế chấp, cầm cố tài sản cho người khác mà không sử dụng khoản tiền thu được để thi hành án và không còn tài sản khác hoặc tài sản khác không đủ để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án thì tài sản đó vẫn bị kê biên, xử lý để thi hành án, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”. Vì vậy, ông Đ, bà L yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng QSD đất là phù hợp với các điều 116, 117, 119, 500, 501, 502 Bộ luật Dân sự và Điều 167, Điều 188 Luật Đất đai nên được chấp nhận.
[5] Tại phiên tòa bà L cung cấp hợp đồng tặng cho QSD đất đề tháng 7 năm 2024 đối với diện tích 7.153m2, thừa 59, tờ bản đồ số 7, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện V, tỉnh Long An và trình bày giữa ông Đ, bà K không có tặng cho QSD đất; hợp đồng nêu trên được xác lập là nhằm mục đích sang tên QSD đất cho ông Đ theo hợp đồng chuyển nhượng QSD đất bằng giấy tay lập ngày 13/7/2022 mà các bên không phải nộp thuế theo quy định. Như vậy, hợp đồng tặng cho nêu trên là hợp đồng giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế với Nhà nước nên cũng cần tuyên hủy là phù hợp với quy định tại Điều 124 Bộ luật Dân sự.
[6] Về giải quyết hậu quả hợp đồng: Theo quy định tại Điều 131 Bộ luật Dân sự thì khi giao dịch dân sự vô hiệu, các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, bồi thường thiệt hại. Cụ thể: Ông Đ, bà L và bà K đều xác định giá chuyển nhượng đất là 450.000.000 đồng, bà K đã nhận đủ tiền nên bà K có nghĩa vụ phải trả lại ông Đ, bà L. Đồng thời, ông Đ, bà L phải giao trả lại cho bà K diện tích đất 7.153m², thửa 59, tờ bản đồ số 7 cùng với 01 bản chính giấy chứng nhận QSD đất số DB 424826 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp cho bà K ngày 23/6/2021.
Về thiệt hại: Giá đất tại thời điểm chuyển nhượng là 450.000.000 đồng, nay theo chứng thư thẩm định giá số 08052407-BĐS/BT-HN ngày 08/5/2024 của Công ty TNHH Đ2, xác định giá trị đất tranh chấp là 450.639.000 đồng. Nay ông Đ, bà L không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Ý kiến của bà Đ1, bà N, phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đ bà L về việc hủy hợp đồng chuyển nhượng QSD đất với bà K là có căn cứ.
[8] Đối với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Hưng không có yêu cầu trong vụ án nên không xem xét.
[9] Về chi phí đo đạc, định giá và xem xét thẩm định tại chỗ: Tổng chi phí là 15.000.000 đồng, do yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng QSD đất của ông Đ, bà L được chấp nhận, bà K phải chịu chi phí này là phù hợp với quy định tại Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 166 Bộ luật Tổ tụng dân sự, ông Đ, bà L đã nộp xong nên bà K có nghĩa vụ hoàn trả số tiền trên.
[10] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tổ tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 án phí được tính như sau: Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là tranh chấp không có giá ngạch nên án phí được tính là 300.000 đồng, đối với nghĩa vụ trả tiền thì án phí được tính là 5%. Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí, nguyên đơn được hoàn lại toàn bộ tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 3, khoản 12 Điều 26; khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 157; Điều 158; Điều 165; Điều 166; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 116, Điều 117, Điều 119, Điều 124, Điều 131, Điều 500, Điều 501, Điều 502 Bộ luật Dân sự;
Căn cứ Điều 188 Luật Đất đai;
Căn cứ Điều 75 Luật Thi hành án dân sự;
Căn cứ Điều 6 của Thông tư 14/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 26/7/2010 của Bộ tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc hướng dẫn thi hành án dân sự và Điều 24 Nghị định 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ hướng dẫn Luật thi hành án dân sự;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Huỳnh Văn Đ và bà Lê Thị Cẩm L về việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSD đất: Hùy hợp đồng chuyển nhượng QSD đất giữa ông Huỳnh Văn Đ với bà Huỳnh Thị Ngọc K lập ngày 13/7/2022 theo giấy có tiêu đề “Giấy hợp đồng mua bán đất” và hủy hợp đồng tặng cho QSD đất để tháng 7 năm 2022 giữa bà Huỳnh Thị Ngọc K với ông Huỳnh Văn Đ đối với diện tích diện tích 7.153m², thừa 59, tờ bản đồ số 7, loại đất trồng lúa nước, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện V, tỉnh Long An.
Buộc bà Huỳnh Thị Ngọc K phải trả cho ông Huỳnh Văn Đ và bà Lê Thị Cẩm L số tiền 450.000.000đ (Bốn trăm năm mươi triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, bên có nghĩa vụ chậm thi hành án sẽ phải chịu thêm khoản tiền lãi tính trên số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
Buộc ông Huỳnh Văn Đ và bà Lê Thị Cẩm L phải giao trả cho bà Huỳnh Thị Ngọc K: Diện tích 7.153m², thừa 59, tờ bản đồ số 7, loại đất trồng lúa nước, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện V, tỉnh Long An; 01 bản chính giấy chứng nhận QSĐĐ đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền đất số DB 424826 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh L cấp ngày 22/6/2021 cho bà Huỳnh Thị Ngọc K. Đồng thời, bà Huỳnh Thị Ngọc K phải thực hiện đúng nghĩa vụ của người phải thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 7a Luật Thi hành án dân sự.
Vị trí, từ cận giáp ranh các thừa đất được thể hiện trong mảnh trích đo địa chính số 24-2024 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện V ký duyệt ngày 02/4/2024; đất hiện do ông Huỳnh Văn Đ và bà Lê Thị Cẩm L đang quản lý sử dụng.
3. Về chi phí đo đạc, định giá, xem xét thẩm định tại chỗ: Bà Huỳnh Thị Ngọc K phải chịu chi phí đo đạc, định giá, xem xét thẩm định tại chỗ là 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng) để hoàn trả ông Huỳnh Văn Đ và bà Lê Thị Cẩm L.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, bên có nghĩa vụ chậm thi hành án sẽ phải chịu thêm khoản tiền lãi tính trên số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
4. Về án phí:
Bà Huỳnh Thị Ngọc K phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) và 22.500.000đ (Hai mươi hai triệu, năm trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước.
H lại cho ông Huỳnh Văn Đ và bà Lê Thị Cẩm L tiền tạm ứng án phí đã nộp gồm: 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0002415 ngày 04/01/2024 và 11.014.000đ (Mười một triệu, không trăm mười bốn nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0002640 ngày 06/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Hưng.
5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 29/8/2024. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
6. Về quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 41/2024/DS-ST
| Số hiệu: | 41/2024/DS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Vĩnh Hưng - Long An |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Ngày ban hành: | 29/08/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về