TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
BẢN ÁN 62/2024/DS-ST NGÀY 28/08/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG CẦM CỐ TÀI SẢN
Trong ngày 28 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 90/2024/TLST-DS ngày 21 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 114/2024/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty cổ phần S; Địa chỉ số A N, phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An.
Người đại diện theo ủy quyền của Công ty cổ phần S: Ông Võ Anh H – Chức vụ: Nhân viên Công ty cổ phần S - Địa chỉ: Số D, đường L, Phường C, thành phố T, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
Bị đơn: Bà Thạch Thị C; Sinh năm 1997; Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện P, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 15/6/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Công ty cổ phần S trình bày:
Vào ngày 24/6/2022, bà Thạch Thị C có đến địa chỉ của Công ty tại địa chỉ: Số D, đường L, Phường C, thành phố T, tỉnh Sóc Trăng để ký hợp đồng cầm cố tài sản. Cụ thể theo hợp đồng số: STM220601025NA15X được ký giữa các bên ngày 24/6/2022 số đăng ký “Giao dịch đảm bảo trên Hệ thống Đăng ký trực tuyến của Cục đăng ký quốc gia: Giaodichdambao/botuphap: 1462850966 tại trang web: https://dktructuyen.moj.gov.vn/ với thỏa thuận như sau: Bà Thạch Thị C cầm cố tài sản là: 01 xe môtô hai bánh BKS 83P2-507.xx; Loại xe HONDA AIR BLADE 125CC màu: CAM, ĐEN có số khung RLHJF461XEZ476849 và số máy JF46E7105056 được cấp giấy chứng nhận đăng ký xe môtô số 001995 do Công an tỉnh Sóc Trăng cấp ngày 28/02/2020 để nhận số tiền là 11.000.000 đồng (Mười một triệu đồng). Thời hạn cầm cố là 12 tháng (từ ngày 24/6/2022 đến ngày 24/6/2023) với mức lãi suất là 1,1%/ tháng. Theo hợp đồng cầm cố đã ký thì Công ty đã giải ngân đầy đủ số tiền trên cho bà Thạch Thị C. Do nhu cầu cần có xe đi lại hàng ngày nên Công ty có ký giấy cho bà Thạch Thị C mượn lại xe sử dụng. Trong Giấy mượn xe có quy định rõ thời hạn mượn xe từ ngày 24/6/2022 đến ngày 24/7/2022 địa điểm trả xe là tại chi nhánh Sóc Trăng. Bà Thạch Thị C có cam kết rõ ràng trong giấy mượn xe: Hoàn trả lại tài sản mượn đúng thời hạn và địa điểm đã thỏa thuận.
Quá trình trả nợ, bà Thạch Thị C chưa thanh toán đúng nghĩa vụ theo hợp đồng cho Công ty, đến nay đã quá hạn hợp đồng hiện tại trễ 285 ngày, bà Thạch Thị C không trả nợ cho Công ty và cũng không trả lại xe máy cho Công ty. Nhân viên của Công ty đã nhiều lần liên hệ qua điện thoại và đến nhà bà Thạch Thị C tại địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện C, Sóc Trăng nhưng đều không gặp. Công ty cổ phần S đã tạo rất nhiều điều kiện về thời gian để bà Thạch Thị C trả lại tiền hoặc tài sản là xe máy đã cầm cố cho Công ty Công ty cổ phần S, nhưng bà Thạch Thị C không thực hiện.
Nay Công ty cổ phần S khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Long Phú giải quyết như sau:
Buộc bà Thạch Thị C phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo theo Hợp đồng cầm cố, giấy mượn xe đã ký với Chi nhánh Sóc Trăng- Công ty cổ phần S số STM220601025NA15X ngày 24/6/2022 toán số tiền 4.628.000 đồng (Bốn triệu sáu trăm hai mươi tám nghìn đồng) tạm tính đến ngày 13/06/2024 bao gồm:
+ Gốc: 3.902.000 đồng;
+ Lãi trong hạn: 172.000 đồng (1,1%/ tháng);
+ Lãi quá hạn: 1.002.000 đồng (1,65%/ tháng);
Ngoài ra bà Thạch Thị C còn phải tiếp tục chịu lãi suất, phí phát sinh theo hợp đồng cầm cố đã ký kể từ ngày 14/06/2024 cho đến khi thanh toán xong nợ.
Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện, nguyên đơn đã giao nộp tài liệu chứng cứ bao gồm:
+ Số Giấy chứng nhận đăng ký xe môtô số 001995 do Công an tỉnh Sóc Trăng cấp ngày 28/02/2020 (công chứng);
+ Hợp đồng số: STM220601025NA15X ngày 24/6/2022 kèm theo phụ lục hợp đồng (công chứng);
+ Giấy ủy quyền ngày 24/6/2022 giữa bà Thạch Thị C với Công ty cổ phần S chi nhánh Sóc Trăng (photo);
+ Phiếu đăng ký cầm cố xe máy ngày 24/6/2022 (photo);
+ Giấy mượn xe ngày 24/6/2022 (công chứng);
+ Giấy ủy quyền giữa Công ty cổ phần S với ông Võ Anh H ngày 31/10/2023 (công chứng);
+ Căn cước công dân tên Võ Anh H (công chứng);
+ Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên mã số doanh nghiệp 2901807716 ngày đăng ký thay đổi lần thứ 5 ngày 29/10/2020 (bản công chứng);
+ Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh mã số 2901807715-045 ngày thay đổi lần thứ 1 ngày 21/4/2023 (bản công chứng);
+ Hộ chiếu/ thị thực (bản công chứng);
Đối với Công ty TNHH S theo Quyết định của chủ sở hũu Công ty TNHH S số 103/QĐ.HĐQT ngày 26/9/2023 chuyển đổi Công ty TNHH S thành Công ty cổ phần S (tên viết tắt S) và được đăng ký theo giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty cổ phần – đăng ký lần đầu vào ngày 24/11/2015 và thay đổi lần thứ 6 ngày 11/10/2023.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Long Phú đã tiến hành xác minh về bà Thạch Thị C hiện tại vẫn còn đăng ký thường trú tại Ấp A, xã B, huyện P, tỉnh Sóc Trăng. Sau khi thụ lý vụ án, việc cấp tống đạt các văn bản tố tụng được cho bà Thạch Thị C được giao cho bà ngoại tên Thạch Thị S, ở cùng địa chỉ nhận thay. Do đó việc cấp tống đạt được thực hiện theo quy định tại khoản 5 Điều 177 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên đến nay bà Thạch Thị C vẫn không đến Tòa án để trình bày ý kiến.
Tại phiên tòa hôm nay,
* Người đại diện theo ủy quyền nguyên đơn là ông Võ Anh H xác định nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện buộc bà Thạch Thị C có nghĩa vụ thanh toán đối với hợp đồng cầm cố tài sản STM220601025NA15X ngày 24/6/2022 số tiền là: 4.994.365 đồng. Trong đó, tiền gốc: 3.902.000 đồng. Tiền lãi trong hạn tính từ ngày 25/02/2023 đến ngày 24/6/2023 là 171.688 đồng. Tiền lãi quá hạn từ ngày 25/6/2023 đến ngày 28/8/2024 là 902.677 đồng.
Công ty cổ phần S trả lại Giấy chứng nhận đăng ký xe môtô số 001995 do Công an tỉnh Sóc Trăng cấp ngày 28/02/2020 khi bà Thạch Thị C thực hiện xong nghĩa vụ trả tiền.
* Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú tại phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự. Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn chưa chấp hành quy định.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Áp dụng Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 244, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 280, Điều 309, khoản 4 Điều 313, Điều 468 Bộ luật dân sự; Khoản 6 Điều 29 Nghị định 96/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ; Khoản 2 Điều 5 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
+ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bà Thạch Thị C trả lại cho Công ty cổ phần S số tiền là 4.994.365 đồng (Trong đó, tiền gốc: 3.902.000 đồng. Tiền lãi trong hạn tính từ ngày 25/02/2023 đến ngày 24/6/2023 là 171.688 đồng. Tiền lãi quá hạn từ ngày 25/6/2023 đến ngày 28/8/2024 là 902.677 đồng. Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày Công ty cổ phần S có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng bà Thạch Thị C phải trả lãi cho Công ty cổ phần S đối với số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Ghi nhận việc Công ty cổ phần S trả lại Giấy chứng nhận đăng ký xe môtô số 001995 do Công an tỉnh Sóc Trăng cấp ngày 28/02/2020 khi bà Thạch Thị C thực hiện xong nghĩa vụ trả tiền.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về xét xử vắng mặt: Tại phiên tòa hôm nay bị đơn bà Thạch Thị C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và khoản 3 Điều 235 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.
[1.2] Về xác định quan hệ tranh chấp: Công ty cổ phần S (tên viết tắt S) khởi kiện buộc bà Thạch Thị C phải trả nợ cho Công ty cổ phần S toàn bộ số tiền bao gồm nợ gốc và nợ lãi phát sinh theo Hợp đồng cầm cố, giấy mượn xe số STM220601025NA15X ngày 24/6/2022 toán số tiền 4.628.000 đồng (Bốn triệu sáu tram hai mươi tám nghìn đồng) tạm tính đến ngày 13/06/2024 bao gồm: Tiền gốc:
3.902.000 đồng; Lãi trong hạn: 172.000 đồng (1,1%/ tháng); Lãi quá hạn: 1.002.000 đồng (1,65%/ tháng). Ngoài ra bà Thạch Thị C còn phải tiếp tục chịu lãi suất, phí phát sinh theo hợp đồng cầm cố đã ký kể từ ngày 14/06/2024 cho đến khi thanh toán xong nợ được xác định đây là vụ án dân sự với quan hệ tranh chấp là “Hợp đồng cầm cố tài sản” theo quy định tại Điều 309 của Bộ luật Dân sự 2015 và khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.3] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn bà Thạch Thị C có địa chỉ Ấp A, xã B, huyện P, tỉnh Sóc Trăng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.4] Xét về thay đổi yêu cầu khởi kiện: Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xác định thay đổi số tiền thanh toán của lãi trong hạn từ 172.000 đồng thành số tiền 171.688 đồng. Hội đồng xét xử thấy rằng việc thay đổi số tiền lãi trong hạn của nguyên đơn là có lợi cho bị đơn và việc thay đổi yêu cầu này không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu theo quy định tại khoản 1 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân nên được chấp nhận.
[2] Về nội dung vụ án: Bà Thạch Thị C đã giao kết với Công ty TNHH S – chi nhánh Sóc Trăng (nay là Công ty cổ phần S (tên viết tắt S)) hợp đồng cầm cố số: STM220601025NA15X ngày 24/6/2022. Theo nội dung của hợp đồng trên, bà Thạch Thị C cầm cố tài sản là: 01 xe môtô hai bánh BKS 83P2-507.xx. Loại xe HONDA AIR BLADE 125CC màu: CAM, ĐEN. Số khung RLHJF461XEZ476849; Số máy JF46E7105056. Số Giấy chứng nhận đăng ký xe môtô số 001995 do Công an tỉnh Sóc Trăng cấp ngày 28/02/2020. Với giá trị là 11.000.000 đồng (Mười một triệu đồng); thời hạn cầm cố là 12 tháng (từ 24/6/2022 đến 24/6/2023) với mức lãi suất là 1,1%/ tháng. Giao dịch Đảm bảo trên Hệ thống Đăng ký Trực tuyến của Cục đăng ký quốc gia: Giaodichdambao/botuphap: 1462850966 theo web: https://dktructuyen.moj.gov.vn/.
[2.1] Theo tài liệu chứng cứ thể hiện giao dịch chuyển tiền từ Công ty TNHH S chuyển đến số tài khoản 19038639491011 mang tên Thạch Thị C vào ngày 25/6/2022 với nội dung ST-HD so STM220601025NA15X(CAM) với số tiền 10.025.000 đồng và trừ các khoản phí phí bảo hiểm (660.000đ), phí bảo đảm tài sản (150.000đ) và phí ban đầu (165.000đ) là 975.000 đồng do bà Thạch Thị C phải chịu.
[2.2] Hợp đồng cầm cố tài sản được các bên xác lập trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, không bị lừa dối hay bị ép buộc nên đây là hợp đồng hợp pháp phù hợp với quy định với Điều 309 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[2.3] Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, các văn bản tố tụng và thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho bà Thạch Thị C biết nhưng bà Thạch Thị C không có ý kiến phản đối gì. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định hợp đồng cầm cố số: STM220601025NA15X ngày 24/6/2022 giữa bà Thạch Thị C với với Công ty TNHH S – chi nhánh Sóc Trăng (nay là Công ty cổ phần S (tên viết tắt S)) có hiệu lực theo quy định tại khoản 1 Điều 310 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Bà Thạch Thị C (bên cầm cố) đã giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình là 01 xe môtô hai bánh BKS 83P2-507.xx; Loại xe HONDA AIR BLADE 125CC màu: CAM, ĐEN có số khung RLHJF461XEZ476849; Số máy JF46E7105056 đã được Công an tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận đăng ký xe môtô số 001995 do cấp ngày 28/02/2020 cho Công ty TNHH S để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ với số tiền là 11.000.000 đồng.
[2.4] Trong quá trình thực hiện hợp đồng tính đến ngày 13/6/2024 thì bà Thạch Thị C còn nợ Công ty được số tiền gốc là 3.902.000 đồng và tiền lãi trong hạn là 172.000 đồng cùng với tiền lãi quá hạn là 1.002.000 đồng. Từ đó đến nay bà Thạch Thị C không trả tiền gốc và lãi cho Công ty nữa là vi phạm nghĩa vụ theo giao kết trong hợp đồng cầm cố, đã vi phạm Điều 4 của Hợp đồng cầm cố tài sản và Điều 4 của phụ lục hợp đồng mà các bên đã ký kết. Vì vậy, việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn bà Thạch Thị C phải trả cho nguyên đơn số tiền gốc còn nợ 3.902.000 đồng là phù hợp theo quy định tại Điều 280, Điều 309 Bộ luật Dân sự 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.5] Đối với yêu cầu tính lãi của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng: Tại hợp đồng cầm cố tài sản số: STM220601025NA15X ngày 24/6/2022 giữa Công ty và bà Thạch Thị C đã giao kết mức lãi suất là 1,1%/tháng; lãi suất nợ gốc quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Do đó, mức lãi suất của hợp đồng các bên đã ký kết là phù hợp theo quy định tại khoản 6 Điều 29 Nghị định số 96/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ, khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 5 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên bị đơn phải có nghĩa vụ trả lãi cho nguyên đơn theo hợp đồng đã giao kết. Việc bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả tiếp dư nợ gốc và lãi theo giao kết trong hợp đồng từ ngày 25/02/2023 bà Thạch Thị C đã vi phạm hợp đồng cầm cố mà các bên đã ký kết, bị đơn là người có lỗi và là người vi phạm hợp đồng nên phải chịu mọi hậu quả theo giao kết và theo quy định của pháp luật. Như vậy, bà Thạch Thị C phải có nghĩa vụ trả cho Công ty số tiền gốc và lãi phát sinh theo giao kết của hợp đồng đến ngày 28/8/2024 với số tiền là 4.994.365 đồng (trong đó: tiền gốc là 3.902.000 cùng với lãi trong hạn từ ngày 31/10/2022 đến 30/5/2023 là 171.688 đồng, lãi quá hạn từ ngày 31/5/2023 đến ngày 28/8/2024 là 920.677 đồng) là có căn cứ, phù hợp với nội dung thỏa thuận về việc trả nợ gốc lãi, chuyển nợ quá hạn tại hợp đồng cầm cố tài sản đã ký kết nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày Công ty cổ phần S có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng bà Thạch Thị C phải trả lãi cho Công ty cổ phần S đối với số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
[2.6] Bên cạnh đó, Hội đồng xét xử ghi nhận ý kiến và buộc Công ty cổ phần S trả lại Giấy chứng nhận đăng ký xe môtô số 001995 do Công an tỉnh Sóc Trăng cấp ngày 28/02/2020 khi bà Thạch Thị C thực hiện xong nghĩa vụ trả tiền.
[2.7] Từ những phân tích trên, đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần S (tên viết tắt S).
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên Công ty cổ phần S (tên viết tắt S) không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Bà Thạch Thị C phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[4] Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ vào Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Công ty cổ phần S (tên viết tắt S) có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; bà Thạch Thị C có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
[5] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú phát biểu tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 95, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 3 Điều 235, khoản 1 Điều 244, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 280, Điều 309, khoản 1 Điều 310, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật sự năm 2015;
Căn cứ Khoản 6 Điều 29 Nghị định 96/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ; Khoản 2 Điều 5 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần S (tên viết tắt S):
1/ Buộc bà Thạch Thị C có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty cổ phần S (tên viết tắt S) số tiền nợ gốc, lãi phát sinh trong hạn và lãi quá hạn theo hợp đồng cầm cố số: STM220601025NA15X ngày 24/6/2022 là: 4.994.365 (Bốn triệu, chín trăm chín mươi bốn nghìn, ba trăm sáu mươi lăm) đồng. Trong đó, tiền gốc: 3.902.000 (Ba triệu, chín trăm lẻ hai nghìn) đồng. Tiền lãi trong hạn tính từ ngày 25/02/2023 đến ngày 24/6/2023 là 171.688 (Một trăm bảy mươi mốt nghìn, sáu trăm tám mươi tám) đồng. Tiền lãi quá hạn từ ngày 25/6/2023 đến ngày 28/8/2024 là 902.677 (Chín trăm lẻ hai nghìn, sáu trăm bảy mươi bảy) đồng.
2/ Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày Công ty cổ phần S có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng bà Thạch Thị C phải trả lãi cho Công ty cổ phần S đối với số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
3/ Ghi nhận ý kiến và buộc Công ty cổ phần S trả lại Giấy chứng nhận đăng ký xe môtô số 001995 do Công an tỉnh Sóc Trăng cấp ngày 28/02/2020 khi bà Thạch Thị C thực hiện xong nghĩa vụ trả tiền.
4/ Về án phí dân sự sơ thẩm: Công ty cổ phần S (tên viết tắt S) không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được nhận lại số tiền tạm ứng đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0005481 ngày 19/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Phú. Bà Thạch Thị C phải chịu án dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) đồng.
5/ Về quyền kháng cáo: Công ty cổ phần S (tên viết tắt S) có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án và bà Thạch Thị C có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Bản án về tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản số 62/2024/DS-ST
| Số hiệu: | 62/2024/DS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Long Phú - Sóc Trăng |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Ngày ban hành: | 28/08/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về