TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU – THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
BẢN ÁN 105/2024/DS-ST NGÀY 20/09/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG CẦM CỐ TÀI SẢN
Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 264/2024/TLST-DS ngày 09 tháng 7 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2024/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 78/2024/QĐST-DS ngày 05 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty Cổ phần S;
Trụ sở chính: Số A N, phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Đại diện theo pháp luật: Ông Kankwathaisal N – Chức vụ: Giám đốc.
Tên công ty cũ: Công ty TNHH S1 Đại diện theo ủy quyền: Ông Võ Hoàn V, sinh năm: 1991. (Theo Giấy ủy quyền số 441/2024/UQ-SVN ngày 01/01/2024, có mặt). Địa chỉ liên hệ: Số E L, phường C, quận T, thành phố Đà Nẵng
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1961;
Nơi ĐKHKTT: K L, phường P, quận H, thành phố Đà Nẵng (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện đề ngày 17 tháng 5 năm 2024, Đơn sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện đề ngày 01/7/2024, các Bản tự khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn và đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Võ Hoài V1 trình bày:
Theo Giấy đăng ký kinh doanh chúng tôi đã đăng ký thì Công ty Cổ phần S (sau đây gọi là Công ty) hoạt động ở nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực cầm cố tài sản.
Vào ngày 24/7/2019, bà Nguyễn Thị L có đến chi nhánh Đ 1 của Công ty tại địa chỉ: Số E L, phường C, quận T, thành phố Đà Nẵng để ký hợp đồng cầm cố tài sản. Cụ thể theo Hợp đồng số: DNM190701020NA16X được ký giữa các bên ngày 24/7/2019 thì bà Nguyễn Thị L có cầm cố tài sản là 01 xe máy biển kiểm soát 43C1- 593.81; Loại xe SHMODE 125cc; màu trắng, nâu; Số khung: 5123FY143910; Số máy JF51E0389484; Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 025146 do Công an thành phố Đ cấp ngày 08/08/2016 để vay số tiền 25.000.000 đồng; thời hạn cầm cố tài sản là 12 tháng (từ ngày 24/7/2019 đến ngày 24/7/2020) với mức lãi suất là 1,1%/tháng.
Thực hiện hợp đồng, Công ty đã giải ngân đầy đủ số tiền cho bà Nguyễn Thị Lệ . Do nhu cầu có xe đi lại hàng ngày nên Công ty có ký giấy cho bà Nguyễn Thị L mượn lại xe để sử dụng. Trong Giấy mượn xe có quy định rõ thời hạn mượn xe từ ngày 24/7/2019 đến ngày 24/7/2020; địa điểm trả xe là tại Chi nhánh Đ. Bà Nguyễn Thị L có cam kết rõ trong Giấy mượn xe.
Quá trình trả nợ, bà Nguyễn Thị L chưa thanh toán đúng nghĩa vụ theo thỏa thuận tại hợp đồng cho Công ty C. Đến nay đã quá hạn hợp đồng (trễ hạn 1515 ngày) nhưng bà L không trả nợ cho Công ty và cũng không trả lại xe máy cho Công ty chúng tôi. Nhân viên Công ty đã nhiều lần liên hệ qua điện thoại và trực tiếp đến nhà bà Nguyễn Thị L nhưng đều không gặp. Do vậy, Công ty Cổ phần S Có Ngay khởi kiện tại Tòa án yêu cầu:
- Buộc bà Nguyễn Thị L phải thanh toán số tiền 37.233.000 đồng, bao gồm: Tiền gốc là 11.502.173,35 đồng; Lãi suất cố định 150.198,66 đồng; Phí quản lý hồ sơ cố định: 668.538,63 đồng; Phí bảo dưỡng và hao mòn: 750.000 đồng; Phí trễ hạn:
24.161.623 đồng.
- Ngoài ra, bà Nguyễn Thị L còn phải chịu lãi suất, phí phát sinh theo Hợp đồng cầm cố tài sản đã ký kể từ ngày 17/5/2024 cho đến khi thanh toán xong nợ.
- Trương hợp bà Nguyễn Thị L không thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì Công ty CP S Có Ngay có quyền xử lý đối với tài sản cầm cố là 01 chiếc xe máy biển kiểm soát 43C1-593.81; Loại xe SHMODE 125cc; màu trắng, nâu; Số khung: 5123FY143910; Số máy JF51E0389484 theo Hợp đồng cầm cố tài sản, kèm theo Giấy mượn xe đã ký với Chi nhánh Đ 1 – Công ty TNHH S1 (Nay là Công ty Cổ phần S Có Ngay) số DNM190701020NA16X ngày 24/7/2019.
Bị đơn bà Nguyễn Thị L đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định nhưng bà N1 không có ý kiến phản hồi về yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần S Có Ngay và cũng không đến Tòa án để giải quyết vụ việc.
Tại phiên tòa, Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
- Về số tiền nợ: Công ty S Có Ngay yêu cầu Hội đồng xét xử buộc bà Nguyễn Thị L phải thanh toán khoản nợ tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 20/9/2024) tổng số tiền là 23.047.306 đồng. Trong đó: tiền gốc là 11.502.137,35 đồng; Lãi suất cố định: 150.198,66 đồng(1,1%/tháng, từ ngày 24/3/2020 đến ngày 24/7/2020); Phí quản lý hồ sơ cố định: 668.538,63 đồng (1,9%/tháng, từ ngày 24/3/2020 đến ngày 24/7/2020); Phí bảo dưỡng và hao mòn: 750.000 đồng (1%/tháng, từ 24/3/2020 đến ngày 24/7/2020; Phí phạt trễ hạn: 9.976.395 đồng (trễ hạn 1640 ngày, từ ngày 24/03/2020 đến ngày 20/9/2024) và buộc bà Nguyễn Thị L phải tiếp tục trả phí phạt trễ hạn phát sinh trên số tiền gốc theo thỏa thuận tại Hợp đồng cầm cố tài sản đã ký kể từ ngày 21/9/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
- Công ty Cổ phần S Có Ngay xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về trường hợp bà Nguyễn Thị L không thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì Công ty CP S có quyền xử lý đối với tài sản cầm cố là 01 chiếc xe máy biển kiểm soát 43C1-593.81; Loại xe SHMODE 125cc; màu trắng, nâu; Số khung: 5123FY143910; Số máy JF51E0389484 theo Hợp đồng cầm cố tài sản, kèm theo Giấy mượn xe đã ký với Chi nhánh Đ 1 – Công ty TNHH S1 (Nay là Công ty Cổ phần S Có Ngay) số DNM190701020NA16X ngày 24/7/2019.
Bị đơn – bà Nguyễn Thị L đã được triệu tập để tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng bà L vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, các đương sự và quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Tòa án cấp sơ thẩm đã thụ lý và Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn được đảm bảo kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.
Về nội dung, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết đối với phần yêu cầu khởi kiện mà nguyên đơn tự nguyện rút; chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – Công ty Cổ phần S, buộc bị đơn – bà Nguyễn Thị L phải thanh toán toàn bộ số tiền nợ theo Hợp đồng cầm cố tài sản mà hai bên đã ký kết;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe các đương sự trình bày và tranh luận công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân quận Hải Châu đã niêm yết các văn bản tố tụng và Giấy triệu tập cho bị đơn – bà Nguyễn Thị L đến Tòa án để lấy lời khai, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, bà L đều vắng mặt và không có lý do gì về việc vắng mặt nên Tòa án không lấy được lời khai và hòa giải về nội dung tranh chấp trong vụ án.
Tại phiên tòa, bị đơn - bà Nguyễn Thị L vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt các đương sự.
- Về việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về trường hợp bà Nguyễn Thị L không thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì Công ty CP S có quyền xử lý đối với tài sản cầm cố là 01 chiếc xe máy biển kiểm soát 43C1-593.81; Loại xe SHMODE 125cc; màu trắng, nâu; Số khung: 5123FY143910; Số máy JF51E0389484 theo Hợp đồng cầm cố tài sản, kèm theo Giấy mượn xe đã ký với Chi nhánh Đ 1 – Công ty TNHH S1 (Nay là Công ty Cổ phần S Có Ngay) số DNM190701020NA16X ngày 24/7/2019. Xét thấy, việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyện nên được Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
Xét tính hợp pháp của Hợp đồng cầm cố số: DNM190701020NA16X được ký giữa các bên ngày 24/7/2019 và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy:
Hợp đồng được ký kết giữa nguyên đơn và bị đơn có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của pháp luật, do hai bên tự nguyện giao kết nên các hợp đồng này là hợp pháp. Do vậy, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa các bên và các bên phải có trách nhiệm thực hiện đúng và đầy đủ các thỏa thuận đã cam kết trong các hợp đồng.
Mặc dù bà Nguyễn Thị L vắng mặt và không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của Công ty CP S Có Ngay. Tuy nhiên, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, Hội đồng xét xử xét thấy: Hợp đồng cầm cố số DNM190701020NA16X ngày 24/7/2019 mà bà Nguyễn Thị L ký kết với Công ty CP S Có Ngay để cầm cố tài sản là 01 chiếc xe máy hiệu SH MODE, biển kiểm soát 43C1-593.81 với mục đích vay số tiền 25.000.000 đồng để phục vụ tiêu dùng cá nhân và kinh doanh với lãi suất cố định 1,1%/tháng trên dư nợ thực tế; Phí quản lý hồ sơ cố định là 1,9%/tháng trên dư nợ thực tế tính từ ngày ký hợp đồng và nhận tiền. Theo thỏa thuận tại Hợp đồng, bà L có trách nhiệm thanh toán cho Công ty CP S Tiền Có Ngay trong tiền kỳ hàng tháng với số tiền 2.511.552,14 đồng vào ngày 24 hàng tháng (từ tháng 8/2019 đến tháng 07/2020). Sau khi ký hợp đồng cầm cố, cùng ngày 24/7/2019 Công ty CP S có ngay và bà Nguyễn Thị L ký kết Giấy mượn xe. Theo đó, Công ty CP S Có Ngay cho bà L mượn chiếc xe máy đã cầm cố trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày 24/7/2019.
Quá trình thực hiện hợp đồng, theo thỏa thuận tại Hợp đồng đã ký, Công ty CP S Có Ngay đã giải ngân cho bà L đủ số tiền vay là 25.000.000 đồng. Về phía bà Nguyễn Thị L, sau khi được giải ngân đã thực hiện thanh toán được 07 kỳ với tổng số tiền là 21.155.000 đồng. Trong đó: tiền gốc ;à 13.497.827 đồng. Lãi 1.733.964 đồng; Phí quản lý hồ sơ 2.585.924 đồng; P mượn xe 2.000.000 đồng và phí trễ hạn là 1.337.285 đồng.
Từ ngày 10/6/2020 đến nay, bà L không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán cho Công ty CP S Có Ngay theo thỏa thuận trong hợp đồng mặc dù Công ty đã nhiều lần nhắc nhở. Như vậy, bà L đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán hàng tháng quy định tại Hợp đồng cầm cố đã ký. Tại phiên tòa, Công ty CP S yêu cầu Hội đồng xét xử buộc bà Nguyễn Thị L phải thanh toán khoản nợ tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 20/9/2024) tổng số tiền là 23.047.306 đồng. Trong đó: tiền gốc là 11.502.137,35 đồng; Lãi suất cố định: 150.198,66 đồng(1,1%/tháng, từ ngày 24/3/2020 đến ngày 24/7/2020); Phí quản lý hồ sơ cố định: 668.538,63 đồng (1,9%/tháng, từ ngày 24/3/2020 đến ngày 24/7/2020); Phí bảo dưỡng và hao mòn: 750.000 đồng (1%/tháng, từ 24/3/2020 đến ngày 24/7/2020; Phí phạt trễ hạn: 9.976.395 đồng (trễ hạn 1640 ngày, từ ngày 24/03/2020 đến ngày 20/9/2024) và buộc bà Nguyễn Thị L phải tiếp tục trả phí phạt trễ hạn phát sinh trên số tiền gốc theo thỏa thuận tại Hợp đồng cầm cố tài sản đã ký kể từ ngày 21/9/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ là có cơ sở. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định của pháp luật tại các Điều 280, 309, 310, 311, 357 Bộ luật Dân sự chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Từ những phân tích và đánh giá trên, Hội đồng xét xử nhận thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.
[3] Về án phí: Vì chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên bị đơn bà Nguyễn Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Hoàn trả tiền tạm ứng án phí cho Công ty Cổ phần S Có Ngay.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227, khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ các Điều 117, 280, 309, 310, 311, 357 Bộ luật dân sự năm 2015;
- Căn cứ Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần S Có Ngay về về trường hợp bà Nguyễn Thị L không thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì Công ty CP S có quyền xử lý đối với tài sản cầm cố là 01 chiếc xe máy biển kiểm soát 43C1-593.81; Loại xe SHMODE 125cc; màu trắng, nâu; Số khung: 5123FY143910; Số máy JF51E0389484 theo Hợp đồng cầm cố tài sản, kèm theo Giấy mượn xe đã ký với Chi nhánh Đ 1 – Công ty TNHH S1 (Nay là Công ty Cổ phần S Có Ngay) số DNM190701020NA16X ngày 24/7/2019.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản” của Công ty Cổ phần S Có Ngay đối với bà Nguyễn Thị Lệ .
Xử: 1. Buộc bà Nguyễn Thị L phải thanh toán cho Công ty Cổ phần S Có Ngay khoản nợ tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 20/9/2024) tổng số tiền là 23.047.306 đồng.
Buộc bà Nguyễn Thị L phải tiếp tục trả phí phạt trễ hạn phát sinh trên số tiền gốc theo mức phí phạt trễ hạn thỏa thuận tại Hợp đồng cầm cố tài sản đã ký kể từ ngày 21/9/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
đồng.
2. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm bà Nguyễn Thị L phải chịu là 1.152.365 Hoàn trả cho Công ty Cổ phần S Có Ngay số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 930.825 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0004267 ngày 05 tháng 7 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
3. Về quyền kháng cáo: nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án.
Bản án về tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản số 105/2024/DS-ST
| Số hiệu: | 105/2024/DS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Quận Hải Châu - Đà Nẵng |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Ngày ban hành: | 20/09/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về