Bản án về tranh chấp hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất số 82/2023/DS-PT

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 82/2023/DS-PT NGÀY 16/03/2023 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG CẦM CỐ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Ngày 16 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh C xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 12/2023/TLPT-DS ngày 11 tháng 01 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 297/2022/DS-ST ngày 22 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 27/2023/QĐ-PT ngày 02 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị M H1, sinh năm 1962.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Lê Thị H2, sinh năm 1957 (có mặt).

-Bị đơn: Ông Nguyễn Văn M B, sinh năm 1964 (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1970 (có mặt). Cùng địa chỉ: Ấp Đ, xã K, huyện T, tỉnh C ..

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Nguyễn Văn M B và bà Nguyễn Thị T1: Luật sư Phạm Thanh R, Văn phòng Luật sư Thanh R - Như Q thuộc Đoàn Luật sư tỉnh C (có mặt).

2. Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh huyện Trần Văn T2 (vắng mặt).

Địa chỉ: Khóm 9, thị t, huyện T, tỉnh C ..

- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn M B là bị đơn và bà Nguyễn Thị T1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Hiệp trình bày: Mẹ bà Nguyễn Thị M H1 là cụ Phạm Thị Tám đã cho bà M H một phần đất vào năm 1983 không đo đạc nhưng có bờ ranh một cạnh giáp với đất ông Nguyễn Văn M, một cạnh giáp với đất ông Nguyễn Văn M B và một cạnh giáp đất bà Nguyễn Thị Ch1. Đất ông M, ông M B và đất bà Ch1 cũng đều được cha mẹ cho. Bà M H quản lý và sử dụng đất đến năm 1996 thì được Ủy ban nhân dân huyện Trần Văn Thời cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 7.000 m2 tại thửa đất số 428, bà Ch1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 7.000 m2 tại thửa đất số 429, tờ bản đồ số 10 tọa lạc tại ấp Đá Bạc, xã Khánh Bình Tây, huyện Trần Văn Thời, tỉnh C. Năm 2001 bà M H và bà Ch1 cố toàn bộ phần đất của mình cho ông M B với giá cố đất mỗi người là 12,5 chỉ vàng 24k, thời hạn cố đất là 07 năm, việc cố đất có làm giấy tay do ông M B viết, bà Ch1 và bà M H cùng kí tên vào một tờ giấy cố đất do ông M ba viết để ông M B giao cho mỗi người 12,5 chỉ vàng 24k, ông M B nhận đất canh tác, sử dụng. Năm 2007 bà M H và bà Ch1 yêu cầu chuộc lại đất, nhưng ông M B không đồng ý trả đất. Năm 2015 bà Ch1 khởi kiện yêu cầu ông M B trả lại đất. Tòa án đã xét xử tại bản án sơ thẩm số 56/2017/DSST ngày 01/8/2017 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời đã buộc ông M B trả lại cho bà Ch1 diện tích đất theo đo đạc thực tế là 9.235,3m2 hiện nay đã thi hành án xong. Diện tích đất của bà M H yêu cầu ông M B trả theo đo đạc thực tế là 9.256,3m2, hiện nay ông M B và vợ là bà T1 đang trực tiếp quản lý sử dụng. Do đó bà M H yêu cầu ông M B và bà T1 trả lại diện tích đất 9.256,3m2. Bà M H sẽ trả lại cho ông M B 12,5 chỉ vàng 24k. Ngoài ra, bà M H còn xác định do bà M H yêu cầu chuộc đất mà ông M B không cho chuộc, nên bà M H không sử dụng đất gây thiệt hại là 735 giạ lúa với giá trị 100.000 đồng/giạ. Nên bà M H yêu cầu bồi thường thiệt hại với tổng số tiền 73.500.000 đồng. Đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà M H đứng tên đã thế chấp cho Ngân hàng để vay tiền hiện nay bà M H chưa thanh toán. Đối với tiền chi phí tố tụng yêu cầu ông M B trả lại. Tại phiên tòa sơ thẩm, bà H2 đại diện theo ủy quyền của bà M H xin rút lại phần yêu cầu bồi thường thiệt hại.

- Bị đơn, ông Nguyễn Văn M B trình bày: Ông M B thừa nhận vào năm 2001 ông M B có viết giấy nhận cố của bà M H và bà Ch1 mỗi người 01 phần đất diện tích 7.000 m2 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bà M H và bà Ch1 được cấp. Ông M B đã đưa cho bà M H và bà Ch1 mỗi người 12,5 chỉ vàng 24k, sau đó ông đưa thêm cho bà M H 2,5 chỉ vàng 24k, tổng số vàng cố đất mà ông M B đã giao cho bà M H là 15 chỉ vàng 24k. Giấy cố đất do ông M B giữ cho đến nay. Hiện nay, ông M B xác định không có nhận đất của bà M H và bà Ch1 do hai phần đất ông M B nhận cố của bà M H và bà Ch1 nằm trong diện tích đất ông M B đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên ông M B không đồng ý trả đất. Theo đo đạc thực tế diện tích đất tranh chấp với bà M H là 9.256,3m2. Ngoài ra, ông M B có cho bà M H mượn 2,5 chỉ vàng 24k và đưa thêm cho bà M H 2,5 chỉ vàng 24k sau khi bà M H kí vào giấy cố đất cho ông M B đến nay bà M H chưa trả. Hiện nay, vợ chồng ông M B và bà T1 đang là người trực tiếp canh tác phần đất tranh chấp. Nay, ông M B yêu cầu bà M H trả vàng cố đất là 12,5 chỉ vàng 24k, xin rút lại 05 chỉ vàng cố thêm và vàng mượn. Ông M B không đồng ý trả lại đất vì ông không có nhận đất cố. Ông không yêu cầu bồi thường gì đối với phần cây cối trên phần đất tranh chấp. Không đồng ý trả chi phí tố tụng theo yêu cầu của bà M H.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, bà Nguyễn Thị T1 trình bày: Phần đất tranh chấp hiện nay bà T1 và ông M B đang trực tiếp quản lý, sử dụng. Bà không đồng ý trả đất cho bà M H.

Đối với Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh huyện Trần Văn Thời, quá trình giải quyết vụ án đã được Tòa án đưa vào tham gia tố tụng nhưng Ngân hàng không có ý kiến.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 293/2022/DS-ST ngày 14 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời quyết định:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị M H1.

Tuyên bố: Hợp đồng cố đất ngày 21/3/2001 giữa bà Nguyễn Thị M H1 và ông Nguyễn Văn M B là vô hiệu.

Buộc ông Nguyễn Văn M B và bà Nguyễn Thị T1 giao lại cho bà Nguyễn Thị M H1 phần đất có diện tích 9.256,3m2 thuộc thửa 428 – tờ bản đồ 299 thành lập năm 1994, nay là thửa 180 tờ bản đồ số 4/BĐĐC, thành lập năm 2005 tọa lạc tại ấp Đá Bạc, xã Khánh Bình Tây, huyện Trần Văn Thời, tỉnh C, có tứ cận:

+ Đông giáp Nguyễn Văn M B diện tích 56,20 mét.

+ Tây giáp ông Nguyễn Văn M diện tích 56,20 mét.

+ Bắc giáp ông Nguyễn Văn Thi diện tích 165,0 mét.

+ Nam giáp bà Nguyễn Thị Ch diện tích 165,0 mét.

Buộc ông Nguyễn Văn M B và bà Nguyễn Thị T1 có trách nhiệm di dời những cây trồng trên đất để trả lại hiện trạng phần đất cho bà Nguyễn Thị M H1.

Buộc bà Nguyễn Thị M H1 trả cho ông Nguyễn Văn M B và bà Nguyễn Thị T1 số vàng 12,5 chỉ vàng 24k.

Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị M H1 về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn M B bồi thường thiệt hại số tiền 73.500.000 đồng.

Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn M B về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị M H1 trả 05 chỉ vàng 24k.

Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của đương sự.

Ngày 30/11/2022 bị đơn là ông Nguyễn Văn M B và bà Nguyễn Thị T1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn kháng cáo yêu cầu hủy toàn bộ bản án sơ thẩm, giao hồ sơ về Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời đo đạc, thẩm định xác định lại vị trí từng thửa đất của ông M, bà Ch1, bà M H và của ông, bà.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Ông M B và bà T1 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông M B và bà T1 đề nghị Hội đồng xét xử ngừng phiên tòa để đo đạc xác định lại diện tích, vị trí đất của ông M B.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh C tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Xét yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn M B và bà Nguyễn Thị T1, Hội đồng xét xử xét thấy:

Ông M B thừa nhận vào ngày 21/3/2001 ông M B đã viết giấy cố đất để nhận cố đất của bà M H một phần đất với giá 12,5 chỉ vàng 24k, và nhận cố của bà Ch1 một phần đất với giá 12,5 chỉ vàng 24k. Ông M B thừa nhận đã giao cho bà M H số vàng cố đất theo giấy cố đất là 12,5 chỉ vàng 24k và giao cho bà Ch1 12,5 chỉ vàng 24k nên bà M H và bà Ch1 đã kí tên vào tờ giấy cố đất để ông M B giữ giấy cho đến nay. Ông M B thừa nhận bà M H và bà Ch1 đều được cha mẹ cho mỗi người một phần đất nên bà M H và bà Ch1 mỗi người đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích đất là 7.000m2. Phần đất bà M H được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 7.000m2 tại thửa 428 theo GCNQSDĐ số E 0127486, khi cấp giấy không đo đạc đất nên hiện nay theo đo đạc thực tế thì phần đất của bà M H có diện tích 9.256,3m2. Ông M B thừa nhận đã giao cho bà M H 12,5 chỉ vàng 24k vào ngày 21 tháng 3 năm 2001 để nhận cố đất của bà M H nhưng ông M B cho rằng không nhận đất của bà M H để sử dụng là không có cơ sở. Hiện nay ông M B vẫn thừa nhận bà M H được cha mẹ cho một phần đất có một cạnh giáp với đất của ông M B, một cạnh giáp với đất ông M, một cạnh giáp với đất bà Ch1. Bà M H đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng hiện nay bà M H không có quản lý, sử dụng phần đất nào khác ngoài phần đất đang tranh chấp với ông M B.

Theo sơ đồ trích đo hiện trạng đất khi cấp đất cho ông M B và bà M H, bà Ch1 đều thể hiện vị trí diện tích đất cụ thể, phần đất của ông M B ở thửa 430 giáp với đất bà Ch1 ở thửa số 429 và giáp đất bà M H ở thửa 428.

Phần đất của bà M H và bà Ch1 có hai cạnh giáp đất ông M ở thửa số 427 và giáp đất ông M B ở thửa 430 (BL 420- 423). Phần đất ông M ở thửa 427. Ông M B thừa nhận trên thực địa hiện nay ông M B đang quản lý sử dụng phần đất giáp ranh với đất ông M. Như vậy thì phần đất ông M B đang quản lý sử dụng đã bao gồm phần đất của bà Ch1 và bà M H.

Tại bản án sơ thẩm số 56/2017/DSST ngày 01/8/2017 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời và bản án phúc thẩm số 177/2017-DSPT ngày 13/10/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh C đã xét xử căn cứ vào giấy cố đất ngày 21/3/2001 do ông M B viết để nhận cố đất của bà Ch1 nên buộc ông M B trả đất cho bà Ch1 diện tích đất theo đo đạc thực tế vị trí đất tại thửa 428 là 9.235,3m2 phần đất hiện nay còn lại tại thửa 429 do bà M H yêu cầu ông M B trả lại với diện tích theo đo đạc thực tế là 9.256,3m2 cũng căn cứ theo giấy cố đất do ông M B viết vào ngày 21/3/2001 để ông M B giao 12,5 chỉ vàng 24k cho bà M H để nhận cố đất của bà M H. Do đó bản án sơ thẩm buộc ông M B trả lại phần đất đã nhận cố của bà M H là có cơ sở.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông M B yêu cầu Hội đồng xét xử ngừng phiên tòa để đo đạc lại đất tranh chấp vì ông M B cho rằng vị trí phần đất tranh chấp hiện nay do ông M đang quản lý sử dụng. Vào ngày 28/02/2023 Tòa án đã kết hợp với cơ quan chuyên môn và chính quyền địa phương tiến hành đo đạc, xem xét, thẩm định phần đất của ông M B nhưng phía ông M B chỉ ranh đất sang phần đất của ông M đang quản lý sử dụng nên không đo đạc được. Tuy nhiên theo mảnh trích đo địa chính ngày 20/4/2016 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Trần Văn Thời thể hiện diện tích đất tranh chấp giữa bà M H và ông M B có diện tích 9.256,3m2 ở vị trí thuộc thửa đất số 180, tờ bản đồ địa chính thành lập năm 2005 được xác định là thửa đất số 428, tờ bản đồ 299 thành lập năm 1994 do bà M H được cấp giấy chứng nhận quyền sử đất GCNQSDĐ số E 0127486. Do đó không có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông M B và bà T1 về việc hủy bản án sơ thẩm để tiến hành đo đất xét xử lại.

[3] Tại phiên tòa phúc thẩm, ông M B và bà T1 không có chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình nên không có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông M B và bà T1.

[4] Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh C tại phiên tòa là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Chi phí tố tụng: Ông M B và bà T1 phải chịu theo quy định

[6] Về án phí: Ông M B và bà T1 phải chịu theo quy định của pháp luật. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn M B và bà Nguyễn Thị T1. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 297/2022/DS-ST ngày 22 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị M H1. Tuyên bố: Hợp đồng cố đất ngày 21/3/2001 giữa bà Nguyễn Thị M H1 và ông Nguyễn Văn M B là vô hiệu.

Buộc ông Nguyễn Văn M B và bà Nguyễn Thị T1 giao lại cho bà Nguyễn Thị M H1 phần đất có diện tích 9.256,3m2 thuộc thửa 428, tờ bản đồ 299 thành lập năm 1994, nay là thửa 180 tờ bản đồ số 4/BĐĐC, thành lập năm 2005 tọa lạc tại ấp Đá Bạc, xã Khánh Bình Tây, huyện Trần Văn Thời, tỉnh C, tứ cận:

+ Hướng Đông giáp Nguyễn Văn M B diện tích 56,20 mét.

+ Hướng Tây giáp ông Nguyễn Văn M diện tích 56,20 mét.

+ Hướng Bắc giáp ông Nguyễn Văn Thi diện tích 165,0 mét.

+ Hướng Nam giáp bà Nguyễn Thị Ch diện tích 165,0 mét.

(Kèm theo Mảnh trích đo địa chính ngày 20/4/2016 của Chi nhánh văn Phòng đăng ký đất đai huyện Trần Văn Thời).

Buộc ông M B và bà T1 có trách nhiệm di dời những cây trồng trên đất để trả lại hiện trạng phần đất cho bà M H.

Buộc bà Nguyễn Thị M H1 trả cho ông Nguyễn Văn M B và bà Nguyễn Thị T1 số vàng 12,5 chỉ vàng 24k (mười hai chỉ năm phân vàng 24k).

- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị M H1 về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn M B bồi thường thiệt hại số tiền 73.500.000 đồng.

- Đình chỉ yêu cầu của ông Nguyễn Văn M B về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị M H1 trả 05 (năm) chỉ vàng 24k.

Chi phí tố tụng: Buộc ông Nguyễn Văn M B và bà Nguyễn Thị T1 trả cho bà Nguyễn Thị M H1 số tiền 3.169.000 đồng (ban triệu một trăm sáu mươi chín nghìn đồng).

Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị M H1 được miễn toàn bộ án phí, vào ngày 20/7/2015 bà M H có dự nộp số tiền 1.400.000 đồng, theo biên lai thu số 0005010, tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời; ngày 18/12/2017 đã dự nộp số tiền 1.570.000 đồng, theo biên lai thu số 0007653; ngày 17/8/2018 đã dự nộp số tiền 550.000 đồng, theo biên lai thu số 0008564, tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, nay được nhận lại toàn bộ.

Ông Nguyễn Văn M B và bà Nguyễn Thị T1 phải chịu án phí 600.000 đồng (chưa nộp).

Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn M B và bà Nguyễn Thị T1 mỗi người phải chịu 300.000 đồng, ngày 01/12/2022 ông Nguyễn Văn M B và bà Nguyễn Thị T1 mỗi người đã dự nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0005809 và 0005810 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Trần Văn Thời được chuyển thu.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các quyết định khác không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

110
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất số 82/2023/DS-PT

Số hiệu:82/2023/DS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Cà Mau
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:16/03/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về