TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BẢN ÁN 236/2024/DS-PT NGÀY 26/03/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM
Trong ngày 26 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 108/DSPT ngày 16/01/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 821/2023/DS-ST ngày 26-9-2023 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 970/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 02 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Lê Văn C, sinh năm 1966; Địa chỉ: Ấp P, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Đại diện hợp pháp theo ủy quyền: Ông Vũ Đức L, sinh năm 1979. Địa chỉ: C đường số E, H, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (Văn bản ủy quyền ngày 17/02/2022).
Bị đơn: Công ty TNHH B. Địa chỉ: Tầng 25 Trung tâm thương mại S, C T, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Đại diện hợp pháp theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đức Chuyên/ông Nguyễn Thành L1. Ông Hoàng P ông Đỗ Hoàng L2 (Văn bản ủy quyền ngày 09/3/2024 và ngày 11/3/2024).
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Ông Đình Quang T. Luật sư thuộc Đoàn luật sư Thành phố H.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Hợp tác xã sản xuất và cung ứng lúa giống 9 Táo - LK. Địa chỉ: Ấp P, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Đại diện hợp pháp theo ủy quyền: Ông Vũ Đức L, sinh năm 1979; Địa chỉ: C đường số E, H, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (Văn bản ủy quyền ngày 29/11/2022).
2/ Ông Lữ Minh C1, sinh năm 1956; Địa chỉ: Ấp K, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh;
3/ Ông Võ Văn Đ, sinh năm 1960;
4/ Bà Võ Thị Bé T1, sinh năm 1984;
5/ Ông Võ Văn T2, sinh năm 1986;
6/ Bà Võ Thị Trúc L3, sinh năm 1990;
7/ Ông Võ Văn Đ1, sinh năm 1978;
8/ Ông Võ Văn L4, sinh năm 1988;
9/ Ông Võ Văn T3, sinh năm 1994;
10/ Bà Võ Thị Đ2, sinh năm 1980.
Cùng địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, các bản khai, biên bản hòa giải, Nguyên đơn ông Lê Văn C có ông Vũ Đức L là người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 04 tháng 6 năm 2020 Hợp tác xã Sản xuất và Cung ứng Lúa Giống 9 Táo - LK (gọi tắt là Hợp tác xã) ký kết hợp đồng bảo hiểm số 74726626 với bị đơn Công ty TNHH B. Theo đó bên mua bảo hiểm là Hợp tác xã; Người được bảo hiểm: Đoàn Thị N; Người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm: Lê Văn C (Theo thư báo ngày 17/8/2020 của Công ty B về việc: Điều chỉnh chi tiết về người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm của Công ty B); sản phẩm bảo hiểm P1 - T với số tiền bảo hiểm 1.000.000.000 đồng.
Sau đó người được bảo hiểm là bà Đoàn Thị N đã bị tai nạn chết theo Trích lục khai tử số 29/2020/TLKT ngày 10 tháng 8 năm 2020 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Trên cơ sở là người được thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm, nguyên đơn ông Lê Văn C đã nộp Đơn yêu cầu giải quyết quyền lợi bảo hiểm cho bị đơn để giải quyết quyền lợi bảo hiểm cho nguyên đơn theo hợp đồng bảo hiểm số 74726626.
Ngày 13 tháng 10 năm 2020, bị đơn đã có thư trả lời với nội dung từ chối giải quyết quyền lợi bảo hiểm cho nguyên đơn. Do không đồng ý với nội dung giải quyết trên nên nguyên đơn khởi kiện như sau: Buộc bị đơn Công ty TNHH B giải quyết quyền lợi bảo hiểm chi trả 1.000.000.000 đồng cho nguyên đơn theo Hợp đồng bảo hiểm số 74726626 ngày 04 tháng 6 năm 2020 (được cấp giấy chứng nhận bảo hiểm ngày 05 tháng 6 năm 2020) và lãi suất quá hạn do chậm giải quyết chi trả quyền lợi bảo hiểm, tính từ ngày 13 tháng 10 năm 2020 đến ngày 19 tháng 9 năm 2023 với mức lãi suất 0,83%/tháng làm tròn là 35 tháng là 290.500.000 đồng. Tổng cộng là 1.290.500.000 đồng. Yêu cầu chi trả ngay một lần sau khi có quyết định hoặc bản án có hiệu lực pháp luật.
Đối với ý kiến phản tố của bị đơn yêu cầu tuyên vô hiệu hợp đồng bảo hiểm số 74726626 ngày 04 tháng 6 năm 2020 với lý do bà N không phải là xã viên của hợp tác xã thì nguyên đơn không đồng ý vì: Khi mua bảo hiểm thì Hợp tác xã đã cung cấp đầy đủ thông tin và các tài liệu kèm theo xác nhận bà N là xã viên của Hợp tác xã. Việc Công ty B đã chứng thực thông tin đầy đủ thì mới bán sản phẩm bảo hiểm này cho khách hàng. Do đó, nguyên đơn yêu cầu Tòa án không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.
Bị đơn là Công ty TNHH B do người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa, bị đơn xác nhận đã nhận được tài liệu, chứng cứ là văn bản của Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh về việc công nhận bà Đoàn Thị N là thành viên của Hợp tác xã sản xuất và cung ứng lúa giống 9 Táo - LK, nhiệm kỳ II (2019-2023). Tuy nhiên, tại thời điểm các bên giao kết hợp đồng bảo hiểm, trong danh sách các thành viên Hợp tác xã cung cấp thì không có tên của bà Đoàn Thị N. Do không có chứng từ phù hợp cho thấy bà N là xã viên của Hợp tác xã nên căn cứ Điều 31, Điều 3, Điều 21 Luật Kinh doanh bảo hiểm và Điều 131 Bộ luật dân sự 2015, bị đơn yêu cầu Tòa án tuyên hợp đồng bảo hiểm trên vô hiệu. Còn lý do bị đơn từ chối chi trả quyền lợi bảo hiểm vì nguyên đơn không cung cấp Biên bản khám nghiệm tử thi, biên bản kết luận điều tra của cơ quan có thẩm quyền xác định nguyên nhân tử vong của bà N nên bị đơn không có cơ sở để chi trả quyền lợi bảo hiểm cho nguyên đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Hợp tác xã sản xuất và Cung ứng lúa giống 9 Táo - LK (Gọi tắt là Hợp tác xã) có người đại diện theo ủy quyền là ông Vũ Đức L trình bày:
Hợp tác xã khẳng định bà Đoàn Thị N, sinh năm 1978; địa chỉ: Ấp Ô, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh là thành viên của Hợp tác xã sản xuất và cung ứng lúa giống 9 Táo - LK, nhiệm kỳ II (2019-2023), thời gian tham gia hợp tác xã từ ngày 01/6/2019 theo văn bản số 251/PTC-KH ngày 08/6/2022 về việc xác nhận thông tin thành viên tham gia Hợp tác xã và văn bản số 603/PTC-KH ngày 26/9/2022 về việc xác nhận bổ sung thông tin thành viên tham gia Hợp tác xã của Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh. Việc đăng ký thành viên của Hợp tác xã đối với trường hợp của bà N được thực hiện đúng quy định. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - ông Lữ Minh C1 trình bày:
Trước đây ông là đại lý bảo hiểm của Công ty TNHH B. Ông là người tư vấn cho Hợp tác xã sản xuất và cung ứng lúa giống 9 Táo và Đoàn Thị N xuyên suốt các trình tự, thủ tục và có ký xác nhận các hồ sơ giấy tờ theo quy định cho đến khi các bên hoàn thành việc ký kết hợp đồng bảo hiểm số 74726626. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông C1 không có yêu cầu gì, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan các ông bà Võ Thị Bé T1, Võ Văn Đ, Võ Văn T2, Võ Thị Trúc L3, Võ Văn Đ1, Võ Văn L4, Võ Văn T3, Võ Thị Đ2 trình bày:
Các ông bà không có ý kiến và yêu cầu gì về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo trình tự quy định pháp luật.
Bản án dân sự sơ thẩm số 821/2023/DS-ST ngày 26-9-2023 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:
Căn cứ vào Điều 5, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 12, 13, 17, 18, 21, 29, 31, 33, 83 Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 được sửa đổi, bổ sung năm 2010; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, điểm b khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm, xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn C:
Buộc Công ty TNHH B phải thanh toán cho ông Lê Văn C số tiền bảo hiểm là 1.000.000.000 đồng và 290.500.000 đồng tiền lãi chậm thanh toán tính đến ngày 19 tháng 9 năm 2023.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của Công ty TNHH B về việc yêu cầu tuyên Hợp đồng bảo hiểm số 74726626 ngày 04 tháng 6 năm 2020 là vô hiệu theo Đơn phản tố để ngày 31 tháng 7 năm 2023.
3. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Thành L1 - là người đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH B theo Đơn phản tố để ngày 04 tháng 7 năm 2022.
4. Án phí dân sự sơ thẩm:
Công ty TNHH B phải chịu là 51.015.000 đồng, trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng, còn phải nộp 50.715.000 đồng. Ông Lê Văn C không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn lại cho ông Lê Văn C số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 22.950.000 đồng.
Bản án sơ thẩm còn tuyên về thời hạn kháng cáo và thủ tục thi hành án.
Ngày 26/9/2023, bị đơn Công ty TNHH B có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm số 821/2023/DS-ST ngày 26-9-2023 của Tòa án nhân dân Quận 1. Lý do kháng cáo: Bản án sơ thẩm có nhiều nội dung không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án, không phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự, Luật Kinh doanh bảo hiểm và xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn. Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm: Sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn không rút yêu cầu khởi kiện, người kháng cáo không rút kháng cáo, các đương sự không hòa giải được. Bị đơn đề nghị hủy toàn bộ bản án sơ thẩm do việc thu thập chứng cứ chưa đầy đủ.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án như sau:
- Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Các đương sự đã được đảm bảo để thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định. Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án được đảm bảo.
- Về nội dung: Kháng cáo của bị đơn không có cơ sở để chấp nhận. Đề nghị căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Đơn kháng cáo của bị đơn được thực hiện đảm bảo đúng quy định về thời hạn và thủ tục kháng cáo. Thẩm quyền giải quyết vụ án sơ thẩm đã xác định đúng, đã đưa đủ và xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng. Việc thực hiện tống đạt các văn bản tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án đảm bảo theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Căn cứ Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ B số 74726626 ngày 04/06/2020 ký kết giữa Công ty TNHH B với bên mua bảo hiểm là Hợp tác xã sản xuất và cung ứng lúa giống 9 Táo - LK, xác định người được bảo hiểm là Người thụ hưởng được chỉ định hợp lệ trong Hồ sơ yêu cầu bảo hiểm là bà Đoàn Thị N, sinh ngày 30/5/1962. Căn cứ thư của Tổng giám đốc B ngày 05/06/2020 gửi khách hàng là bà Đoàn Thị N, có nội dung Prudential thông báo xác nhận Hồ sơ tham gia bảo hiểm nhân thọ của bà Đoàn Thị N đã hoàn tất thẩm định và được chấp thuận bảo hiểm, đính kèm hợp đồng bảo hiểm. Căn cứ Nghị quyết Đại hội thành viên nhiệm kỳ I (2019-2023) số 01/NQ-HĐQT ngày 01/06/2019 của Hợp tác xã Sản xuất và Cung ứng lúa giống 9 Táo - LK cùng các tài liệu kèm theo, thể hiện thời điểm ra Nghị quyết, Hợp tác xã có 61 thành viên, trong đó bà Đoàn Thị N là thành viên có mã số thành viên là MS57. Những chứng cứ viện dẫn và nhận định này đã có đủ cơ sở để xác định bà Đoàn Thị N là thành viên của Hợp tác xã Sản xuất và Cung ứng lúa giống 9 Táo - LK thời điểm nhiệm kỳ 2019-2023.
Công ty TNHH B trước khi ký hợp đồng bán bảo hiểm đã tự mình thực hiện việc thẩm định hồ sơ, đã có văn bản chấp thuận bảo hiểm, đã thực hiện thu tiền phí bảo hiểm định kỳ của người mua bảo hiểm, nay khi giải quyết quyền lợi bảo hiểm lại viện lý do bà Đoàn Thị N không phải người được bảo hiểm là vô lý, không phù hợp thực tế và không có cơ sở chấp nhận.
[3] Về lý do từ chối chi bảo hiểm vì nguyên đơn không cung cấp Biên bản khám nghiệm tử thi, biên bản kết luận điều tra của cơ quan có thẩm quyền xác định nguyên nhân tử vong của bà N: Xét thấy, sự kiện bà Đoàn Thị N chết theo Trích lục khai tử số 29/2020/TLKT ngày 10 tháng 8 năm 2020 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh ghi “Nguyên nhân chết: do bị điện giật”. Theo “Biên bản hiện trường” ngày 05/8/2020 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra ghi nhận “Tiến hành xem xét dấu vết sơ bộ trên tử thi không phát hiện dấu vết gì”. Không có dấu hiệu nào để nghi ngờ về nguyên nhân khác hoặc tác động từ nguyên nhân khác dẫn đến cái chết của bà Đoàn Thị N. Có cơ sở xác định về nguyên nhân bà Đoàn Thị N chết là do bị điện giật và đây là tai nạn.
Về chứng từ mà người nhận bảo hiểm cần cung cấp, theo hợp đồng bảo hiểm trong trường hợp người được bảo hiểm tử vong do tai nạn, tại Điều 10.3d) của hợp đồng quy định là: “Giấy chứng tử hoặc giấy báo tử theo quy định của pháp luật”. Riêng các giấy tờ có liên quan theo quy định tại Điều 10.3 điểm c) trong đó có “Biên bản điều tra, kết luận điều tra của cơ quan công an có thẩm quyền, nếu có”, đây là quy định thuộc trường hợp mệnh đề “Nếu - Thì”, được hiểu là nếu có thì cung cấp nên không phải là bắt buộc (Hợp đồng mẫu do bị đơn soạn thảo). Bên cạnh đó, theo bản “Hướng dẫn yêu cầu giải quyết quyền lợi bảo hiểm” do P2 phát hành đính kèm theo Hợp đồng bảo hiểm có quy định về các chứng từ bắt buộc khi giải quyết quyền lợi bảo hiểm đối với trường hợp tử vong là “Giấy báo tử/Giấy chứng tử”, không hề có quy định bắt buộc phải có là “Kết luận điều tra hoặc Biên bản giám định khám nghiệm tử thi” như yêu cầu của bị đơn trình bày. Việc bị đơn viện lý do nguyên đơn không cung cấp Biên bản khám nghiệm tử thi, biên bản kết luận điều tra nên bị đơn từ chối chi trả quyền lợi bảo hiểm cho nguyên đơn, là không đúng với thỏa thuận tại hợp đồng và không có cơ sở chấp nhận.
[5] Từ nhận định trên, xét sơ thẩm đã giải quyết vụ án phù hợp với nội dung hợp đồng hai bên giao kết và đúng quy định pháp luật nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn; Đồng thời sơ thẩm không vi phạm nghiêm trọng về tố tụng hay về thu thập chứng cứ để hủy bản án sơ thẩm như yêu cầu của bị đơn tại phiên tòa phúc thẩm. Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp và có căn cứ pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 12, 13, 17, 18, 21, 29, 31, 33, 83 Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 được sửa đổi, bổ sung năm 2010; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, điểm b khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn; Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 821/2023/DS-ST ngày 26-9-2023 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn C:
Buộc Công ty TNHH B phải thanh toán cho ông Lê Văn C số tiền bảo hiểm là 1.000.000.000 đồng và 290.500.000 đồng tiền lãi chậm thanh toán tính đến ngày 19 tháng 9 năm 2023.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của Công ty TNHH B về việc yêu cầu tuyên Hợp đồng bảo hiểm số 74726626 ngày 04 tháng 6 năm 2020 là vô hiệu theo Đơn phản tố để ngày 31 tháng 7 năm 2023.
3. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Thành L1 - là người đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH B theo Đơn phản tố để ngày 04 tháng 7 năm 2022.
4. Án phí dân sự sơ thẩm:
Công ty TNHH B phải chịu là 51.015.000 đồng, trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp là 300.000 đồng (theo Biên lai số AA/2023/0043900 ngày 03 tháng 8 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh); Công ty TNHH B còn phải nộp 50.715.000 đồng.
Ông Lê Văn C không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn lại cho ông Lê Văn C số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 22.950.000 đồng (theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2021/0005447 ngày 03 tháng 3 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh).
Án phí phúc thẩm: Công ty TNHH B phải chịu 300.000 đồng, trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp là 300.000 đồng (theo Biên lai số AA/2023/0044749 ngày 18 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh).
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Bản án về tranh chấp hợp đồng bảo hiểm số 236/2024/DS-PT
| Số hiệu: | 236/2024/DS-PT |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Ngày ban hành: | 26/03/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về