TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH TUYÊN QUANG
BẢN ÁN 271/2024/HNGĐ-ST NGÀY 20/09/2024 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH XIN LY HÔN
Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức số hóa vụ án thụ lý số 215/2024/TLST-HNGĐ, ngày 26/7/2024 về việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19/8/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 47/2024/QĐST-HNGĐ ngày 04/9/2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Mai P, sinh năm 1996; Địa chỉ: Thôn Đ, xã M, huyện H, tỉnh Tuyên Quang.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1996; Địa chỉ: Thôn T, xã M, huyện H, tỉnh Tuyên Quang.
(Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần 2 không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo nội dung Đơn khởi kiện, Bản tự khai, nguyên đơn chị Nguyễn Mai P trình bày: Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn C sau một thời gian ngắn quen biết tìm hiểu đã đi đến hôn nhân trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Anh chị đăng ký kết hôn ngày 13/3/2024 tại UBND xã M, huyện H. Sau khi kết hôn anh chị chưa được hai bên gia đình cưới hỏi theo phong tục địa phương, chưa về chung sống với nhau nhưng đã phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do cách nhìn nhận cuộc sống chênh lệch, không có tiếng nói chung dẫn đến không còn tình cảm vợ chồng, không thể tiến tới cuộc sống hôn nhân. Cả hai bên gia đình đã hòa giải nhiều lần nhưng anh chị không thể hòa hợp với nhau được nữa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng đã không còn, mâu thuẫn trở nên trầm trọng kéo dài, không thể đoàn tụ xây dựng hạnh phúc gia đình nên chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện H giải quyết cho chị được ly hôn với anh C. Về con chung: Anh chị chưa có con chung, nên không đề nghị Tòa án giải quyết. Về tài sản chung, vay nợ chung: Anh chị không có, nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
Theo Đơn phản hồi ý kiến, bị đơn anh Nguyễn Văn C trình bày: Anh nhất trí với ý kiến của chị P về quá trình đi đến hôn nhân của hai bên. Anh và chị P đã kết hôn nhưng chưa sinh sống chung với nhau và chưa tổ chức đám cưới. Giữa anh và chị P không xảy ra xô xát hay đánh đập, cãi vã to tiếng gì với nhau. Chị P hiện tại đang mang thai con của anh được 4 tháng. Anh chị đều theo tôn giáo là Đ Công giáo nên anh chị có mối ràng buộc tương quan theo pháp luật được cha xứ và mọi người chứng nhận. Anh vẫn hoàn toàn yêu thương vợ con và không có ý định bỏ bé hay gì khác. Có thể chị P mang thai nên tính cách thay đổi và do bản thân anh chưa được tâm lý nên chưa chiều được vợ và có những hiểu lầm không đáng có. Vì vậy, chị P xin ly hôn, anh không nhất trí. Anh muốn vợ chồng có thêm thời gian để hiểu nhau và hòa giải để có thể tránh đưa ra các quyết định sai lầm.
Quá trình giải quyết, Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ tại địa phương với ông Ma Quang T, trưởng thôn T, xã M; với ông Nguyễn Ngọc T1, trưởng thôn Đ, xã M; với ông Nguyễn Văn T2 và bà Bùi Thị T3 là bố đẻ của bị đơn và với bà Hà Thị L là mẹ đẻ của nguyên đơn, kết quả thể hiện: Chị Nguyễn Mai P hiện có hộ khẩu nơi cư trú tại thôn Đ, xã M và anh Nguyễn Văn C hiện có hộ khẩu nơi cư trú tại thôn T, xã M, huyện H, tỉnh Tuyên Quang. Chị P và anh C là vợ chồng có đăng ký kết hôn vào tháng 3 năm 2024 tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Sau khi kết hôn anh chị chưa được hai bên gia đình cưới hỏi theo phong tục địa phương, chưa về chung sống với nhau mà chỉ làm phép cưới theo quy định của D Công giáo. Sau đó chị P mang bầu, ốm nghén, vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, thường hay khúc mắc nhau. Hai bên gia đình cũng đã khuyên bảo, hòa giải cho anh chị bỏ qua mâu thuẫn để về chung sống với nhau nhưng không được. Chị P vẫn kiên quyết muốn ly hôn. Do đó người thân và chính quyền địa phương xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị P và anh C đã đến mức không thể giải quyết, đây là việc cá nhân tình cảm của hai anh chị do anh chị tự quyết. Chị P có đơn xin ly hôn anh C, yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung, chị P hiện tại đang mang thai tháng thứ 4, tháng thứ 5 là con của anh C. Chị P, anh C chưa chung sống với nhau nên không có tài sản chung, vay nợ chung. Tại phiên tòa, nguyên đơn chị P vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt với nội dung giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, chị xác định tình cảm vợ chồng với anh C đã hết đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh C. Bị đơn anh C mặc dù đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Thẩm phán thực hiện đúng quy định của Điều 28, 48 Bộ luật Tố tụng dân sự. Xác định đúng quan hệ tranh chấp, tư cách của người tham gia tố tụng; tiến hành xác minh, tống đạt các văn bản cho đương sự, gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát đúng thời hạn quy định. Nguyên đơn thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng trình tự, thủ tục được quy định tại chương XIV của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị HDXX áp dụng Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 238, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Mai P:
+ Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Mai P được ly hôn với anh Nguyễn Văn C.
+ Về con chung: Các đương sự chưa có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
+ Về tài sản chung, vay nợ chung: Do các đương sự xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
+ Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Mai P phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, Kiểm sát viên còn đề nghị Hội đồng xét xử tuyên quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và các chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng dân sự: Chị Nguyễn Mai P khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Văn C, do đó quan hệ pháp luật trong vụ án này được xác định là Tranh chấp hôn nhân và gia đình “Xin ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh Nguyễn Văn C có hộ khẩu thường trú và sinh sống tại thôn T, xã M, huyện H, tỉnh Tuyên Quang. Do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Tuyên Quang theo quy định tại các Điều 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự: Nguyên đơn thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung vụ án:
* Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Mai P và anh Nguyễn Văn C là vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện H vào ngày 13/3/2024. Trước khi kết hôn hai bên được tự do tìm hiểu, không bị ai cưỡng ép hay lừa dối kết hôn và đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, do vậy đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận. Sau khi kết hôn anh chị chưa được hai bên gia đình cưới hỏi theo phong tục địa phương, chưa về chung sống với nhau mà chỉ làm phép cưới theo quy định của Đ Công giáo. Sau đó chị P mang bầu, ốm nghén, vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Gia đình hai bên cùng chính quyền địa phương cũng đã khuyên bảo, hòa giải cho anh chị bỏ qua mâu thuẫn để về chung sống với nhau nhưng không được. Chị P vẫn kiên quyết muốn ly hôn, nếu không ly hôn anh C chị sẽ có ý nghĩ tiêu cực. Chị P xác định không có tình cảm vợ chồng nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh C. Anh C xác định mâu thuẫn vợ chồng là nhỏ nhặt, hiểu lầm không đáng có, nguyên nhân có thể là do chị P đang mang thai con của anh nên tâm sinh lý thay đổi, không ổn định. Anh chị không xảy ra xô xát, cãi và to tiếng, đánh đập nhau. Vì vậy, chị P xin ly hôn, anh không nhất trí. Hội đồng xét xử thấy rằng chị P và anh C mặc dù đã đăng ký kết hôn nhưng chưa về chung sống với nhau nhưng đã phát sinh mâu thuẫn không thể hòa giải. Nguyên nhân là do anh chị tìm hiểu nhau trong thời gian ngắn nên sớm phát sinh mâu thuẫn. Gia đình hai bên cũng đã rất nhiều lần khuyên bảo hòa giải để anh chị về với nhau nhưng không thành. Chị P hiện tại không còn tình cảm vợ chồng với anh C. Điều đó thể hiện hôn nhân của anh chị lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị P được ly hôn với anh C là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
* Về con chung: Chị P, anh C chưa về chung sống với nhau nhưng hiện tại chị P đang mang thai tháng thứ 5 con của anh C. Vì thai nhi được hình thành trong thời kỳ hôn nhân, được các đương sự thừa nhận nhưng chưa được sinh ra nên Hội đồng xét xử không xem xét.
* Về tài sản chung, vay nợ chung: Do các đương sự xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về án phí và quyền kháng cáo bản án: Nguyên đơn chị Nguyễn Mai P phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Bị đơn anh Nguyễn Văn C không phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 238, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Mai P.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Mai P được ly hôn với anh Nguyễn Văn C. Giấy chứng nhận kết hôn số 09 do Ủy ban nhân dân xã M, huyện H, tỉnh Tuyên Quang cấp ngày 13/3/2024 cho chị Nguyễn Mai P và anh Nguyễn Văn C không còn giá trị pháp lý sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Mai P phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002790 ngày 29/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Tuyên Quang (nộp theo hình thức trực tuyến trên Cổng dịch vụ công quốc gia ngày 26/7/2024), chị P đã nộp đủ án phí. Bị đơn anh Nguyễn Văn C không phải chịu tiền án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Bản án về tranh chấp hôn nhân và gia đình xin ly hôn số 271/2024/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 271/2024/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Hàm Yên - Tuyên Quang |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 20/09/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về