TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH TUYÊN QUANG
BẢN ÁN 257/2024/HNGĐ-ST NGÀY 13/09/2024 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH XIN LY HÔN
Ngày 13 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức số hóa vụ án thụ lý số 181/2024/TLST-HNGĐ, ngày 21/6/2024 về việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12/8/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 38/2024/QĐST-HNGĐ ngày 28/8/2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Mạc Thị H, sinh năm 1990; Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang.
2. Bị đơn: Anh Trần Văn Đ, sinh năm 1989; Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang. (Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần 2 không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo nội dung Đơn khởi kiện, Bản tự khai, nguyên đơn chị Mạc Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Văn Đ sau một thời gian quen biết tìm hiểu đã đi đến hôn nhân trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Anh chị đăng ký kết hôn vào ngày 15/5/2013 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện H. Sau khi được hai bên gia đình cưới hỏi theo phong tục địa phương, anh chị về chung sống với nhau tại nhà anh Đ ở thôn T, xã T. Quá trình chung sống vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc được thời gian đầu sau đó đến năm 2023 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Vợ chồng đã ly thân nhau được hơn 1 năm nay, không ai quan tâm gì đến ai. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng đã không còn, mâu thuẫn trở nên trầm trọng kéo dài, không thể đoàn tụ xây dựng hạnh phúc gia đình nên chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện H giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đ.
Về con chung: Anh chị có 1 con chung, tên là Trần Bảo N, sinh ngày 15/02/2013. Hiện cháu N đang ở với anh Đ và ông bà nội từ khi anh chị ly thân. Ly hôn chị nhất trí để anh Đ tiếp tục nuôi con, chị không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền thăm nom con chung.
Về tài sản, đất đai chung, công nợ chung: Chị xác định vợ chồng không có, nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án anh Trần Văn Đ không đến Tòa án để làm việc. Tòa án tiến hành xác minh, tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật.
Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ tại địa phương với ông Trần Văn A, trưởng thôn T, xã T; với ông Trần Văn A1 và bà Dương Thị T là bố mẹ đẻ của anh Đ, kết quả thể hiện: Chị Mạc Thị H và anh Trần Văn Đ có hộ khẩu, nơi cư trú tại thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang. Trước đó, chị H là người ở tỉnh Lạng Sơn, còn anh Đ là người ở tỉnh Tuyên Quang cùng đi làm công nhân ở tỉnh Bình Dương nên đã gặp gỡ và nên duyên vợ chồng. Anh chị kết hôn với nhau từ năm 2013, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện H. Sau khi kết hôn, chị H chuyển khẩu và về chung sống ở nhà bố mẹ anh Đ tại thôn T, xã T, huyện H. Quá trình chung sống vợ chồng anh chị chủ yếu sinh sống trong Bình Dương, thi thoảng mới về thăm nhà. Cuộc sống vợ chồng của anh chị thời gian đầu hạnh phúc, sau thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do trong quá trình đi làm ăn xa, cuộc sống khó khăn, vợ chồng bất đồng quan điểm, thường hay cãi vã nhau. Chị H không chịu được nên đã bỏ đi, không chung sống với anh Đ hơn 1 năm nay, không về thăm gia đình nhà anh Đ cũng như liên hệ gì với con. Vợ chồng ly thân nhau, không ai quan tâm gì đến ai. Hiện tại anh chị đều làm công nhân, anh Đ đi làm ăn xa nhà, vắng mặt tại địa phương, thi thoảng mới về thăm gia đình. Do đó người thân và chính quyền địa phương xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh Đ đã đến mức trầm trọng nên đề nghị Tòa án giải quyết yêu cầu xin ly hôn của chị H theo quy định của pháp luật. Về con chung, anh chị có 01 con chung, tên là Trần Bảo N, sinh ngày 15/02/2013. Cháu N hiện đang ở cùng với anh Đ và ông bà nội tại thôn T, xã T. Về tài sản chung, vay nợ chung, chị H và anh Đ không có tài sản chung, không có vay nợ chung.
Tại phiên tòa, nguyên đơn chị H vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt với nội dung giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, chị xác định tình cảm vợ chồng với anh Đ đã hết, vợ chồng sống ly thân đã lâu không còn quan tâm, chăm sóc gì đến nhau nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đ. Bị đơn anh Đ mặc dù đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Thẩm phán thực hiện đúng quy định của Điều 28, 48 Bộ luật Tố tụng dân sự. Xác định đúng quan hệ tranh chấp, tư cách của người tham gia tố tụng; tiến hành xác minh, tống đạt các văn bản cho đương sự, gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát đúng thời hạn quy định.
Nguyên đơn thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng trình tự, thủ tục được quy định tại chương XIV của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị HDXX áp dụng Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 238, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Mạc Thị H:
+ Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Mạc Thị H được ly hôn với anh Trần Văn Đ.
+ Về con chung: Giao con chung là cháu Trần Bảo N, sinh ngày 15/02/2013 cho anh Đ trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Chị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn.
+ Về tài sản chung, vay nợ chung: Do các đương sự xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
+ Về án phí: Nguyên đơn chị Mạc Thị H là người dân tộc thiểu số (dân tộc Nùng) sinh sống tại vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Ngoài ra, Kiểm sát viên còn đề nghị Hội đồng xét xử tuyên quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và các chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng dân sự:
Chị Mạc Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Trần Văn Đ, do đó quan hệ pháp luật trong vụ án này được xác định là Tranh chấp hôn nhân và gia đình “Xin ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh Đ có hộ khẩu thường trú và sinh sống tại thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang. Do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Tuyên Quang theo quy định tại các Điều 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự:
Nguyên đơn thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Quá trình giải quyết vụ án anh Đ không đến Tòa án để làm việc. Tòa án tiến hành xác minh nơi cư trú và các mối quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung, vay nợ chung của các đương sự cũng như tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật. Việc anh Đ không đến Tòa án để làm việc thể hiện ý thức không tuân thủ pháp luật, không thực hiện hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự nên Tòa án đã xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.
[3] Về nội dung vụ án:
* Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh Đ kết hôn với nhau từ năm 2013, trước khi kết hôn hai bên được tự do tìm hiểu, không bị ai cưỡng ép hay lừa dối kết hôn, được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương và đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, do vậy đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận. Sau khi kết hôn chị H chuyển khẩu từ Lạng Sơn về chung sống ở nhà bố mẹ anh Đ tại thôn T, xã T, huyện H. Quá trình chung sống vợ chồng anh chị chủ yếu sinh sống, làm ăn trong Bình Dương, thi thoảng mới về thăm nhà. Cuộc sống vợ chồng của anh chị thời gian đầu hạnh phúc, sau thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do trong quá trình đi làm ăn xa, cuộc sống khó khăn, vợ chồng bất đồng quan điểm, thường hay cãi vã nhau. Chị H không chịu được nên đã bỏ đi, không chung sống với anh Đ hơn 1 năm nay, không về thăm gia đình nhà anh Đ cũng như liên hệ gì với con. Vợ chồng ly thân nhau, không ai quan tâm gì đến ai. Trong thời gian sống ly thân hai vợ chồng không hề có sự hỏi han, quan tâm, chăm sóc gì đến nhau, vì vậy tình cảm vợ chồng ngày càng xa cách, ai cũng có cuộc sống của riêng mình. Chị H xác định tình cảm vợ chồng đã hết nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh Đ để giải phóng cho cả hai người đi tìm cuộc sống mới. Anh Đ thông qua gia đình cũng biết được chị H đang làm đơn ly hôn anh tại Tòa án, anh cũng nhất trí nhưng vì đi làm xa nhà nên anh không thu xếp về để giải quyết được. Gia đình anh Đ cũng có ý kiến đề nghị Tòa án giải quyết cho anh chị được ly hôn để ổn định cuộc sống hai bên vì trong thời gian vợ chồng anh chị ly thân, chị H không liên lạc gì với gia đình cũng như không hỏi han quan tâm gì đến con.
Hội đồng xét xử thấy rằng chị H và anh Đ sống ly thân đã lâu, không còn quan tâm, chăm sóc gì đến nhau, không còn tình cảm vợ chồng. Trong thời gian vợ chồng ly thân, anh chị cũng không có động thái gì hàn gắn quay về chung sống, đoàn tụ vợ chồng. Điều đó thể hiện mâu thuẫn vợ chồng giữa anh chị đã đến mức độ trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị H được ly hôn với anh Đ là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
* Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng chị H, anh Đ có 01 con chung tên là Trần Bảo N, sinh ngày 15/02/2013. Hiện tại cháu đang ở cùng anh Đ và ông bà nội là ông Trần Văn A và bà Dương Thị T ở thôn T, xã T từ khi còn nhỏ cũng như trong quá trình anh chị ly thân. Quá trình giải quyết vụ án, chị H có ý kiến giao cháu N cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng. Trong biên bản lấy lời khai của con chung, cháu N thể hiện nguyện vọng được sống cùng với bố và ông bà nội vì lý do chị H quê ở Lạng Sơn, cháu lại đang học lớp 6 trường Trung học cơ sở T1. Để đảm bảo điều kiện học hành, tránh sự xáo trộn, sự phù hợp về phát triển tâm sinh lý và theo nguyện vọng của con, Hội đồng xét xử thấy rằng cần giao cháu N cho anh Đ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị H không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn theo quy định tại Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình.
* Về tài sản chung, vay nợ chung: Do các đương sự không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về án phí và quyền kháng cáo bản án:
Nguyên đơn chị H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được miễn toàn bộ do là người dân tộc thiểu số (dân tộc Nùng), sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Bị đơn anh Đ không phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 238, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Mạc Thị H.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Mạc Thị H được ly hôn với anh Trần Văn Đ.
Giấy chứng nhận kết hôn số 20 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang cấp ngày 15/5/2013 cho chị Mạc Thị H và anh Trần Văn Đ không còn giá trị pháp lý sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung: Giao con chung là cháu Trần Bảo N, sinh ngày 15/02/2013 cho anh Trần Văn Đ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Mạc Thị H không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn.
3. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm cho nguyên đơn chị Mạc Thị H. Bị đơn anh Trần Văn Đ không phải chịu tiền án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án về tranh chấp hôn nhân và gia đình xin ly hôn số 257/2024/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 257/2024/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Hàm Yên - Tuyên Quang |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 13/09/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về