Bản án về tranh chấp hôn nhân và gia đình số 83/2021/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN SƠN, TỈNH TUYÊN QUANG

BẢN ÁN 83/2021/HNGĐ-ST NGÀY 02/04/2021 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Ngày 02 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 412/2020/TLST-HNGĐ, ngày 11/12/2020 về việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2021/QĐXXST-HNGĐ, ngày 02/3/2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Thành N, sinh năm 1983.

- Bị đơn: Chị Lương Thị Y, sinh năm 1987.

Cùng địa chỉ: Thôn M, xã T, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.

(Anh Nam có đơn xin xét xử vắng mặt, chị Yến vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

-Theo đơn khởi kiện, bản tự khai anh Nguyễn Thành N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh với chị Lương Thị Y sau một thời gian quen biết tìm hiểu, đến năm 2008 anh chị kết hôn, đăng ký kết hôn tại UBND xã Thắng Quân, huyện Yên Sơn, trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, sau khi kết hôn vợ chồng anh chung sống với nhau hòa thuận, đến năm 2019 vợ chồng anh phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống nên vợ chồng anh đã ly thân từ năm 2019 cho đến nay, vợ chồng mỗi người sống một nơi, chị Yến đi đâu làm gì anh không biết, nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh đề nghị giải quyết cho anh được ly hôn với chị Lương Thị Y.

Về con chung: Vợ chồng anh có hai con chung là Nguyễn Lương Việt Bách, sinh ngày 13/8/2009 và Nguyễn Hải Đăng, sinh ngày 19/12/2015. Anh đề nghị mỗi người nuôi một con chung, hiện nay anh đang trực tiếp nuôi cháu Bách, chị Yến nuôi cháu Đăng, việc cấp dưỡng nuôi con anh không yêu cầu, Về tài sản chung, nợ chung: Anh xác nhận vợ chồng không có tài sản chung, về vay nợ anh xác nhận không vay nợ ai cũng không cho ai vay nợ, anh không đề nghị tòa án giải quyết.

-Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật, nhưng bị đơn chị Lương Thị Y không có mặt tại Tòa án để giải quyết vụ án. Tòa án tiến hành xác minh tại chính quyền địa phương thể hiện như sau: Anh Nam và chị Yến có hộ khẩu thường trú và thường xuyên sinh sống tại Thôn M, xã T, anh chị lấy nhau có đăng ký kết hôn, có tổ chức lễ cưới, cuộc sống chung của anh chị tại địa phương sinh sống bình thường, không phát sinh mâu thuẫn lới xóm phải hòa giải, cách đây khoảng 01 năm anh chị không chung sống với nhau nữa, chị Yến hiện nay đi đâu, làm gì xóm không nắm được, vì chị Yến không thông báo và khai báo tạm vắng, không cung cấp địa chỉ mới, tuy nhiên thỉnh thoảng chị Yến vẫn về địa phương thăm con, nay anh Nam có đơn ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, quá trình chung sống anh Nam và chị Yến có hai con chung, cháu Nguyễn Lương Việt Bách hiện nay do anh Nam trực tiếp nuôi dưỡng cháu ăn học, còn cháu Nguyễn Hải Đăng đã đi theo mẹ, về nhà đất, anh chị không có nhà đất tại địa phương, về vay nợ, xóm không xác nhận anh chị có vay nợ tổ chức hay cá nhân nào.

- Anh Nam có đơn xin xét xử vắng mặt, chị Yến vắng mặt không có lý do.

-Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Thẩm phán thực hiện đúng quy định của Điều 28, 48 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 (BLTTDS), xác định đúng quan hệ tranh chấp, tư cách của người tham gia tố tụng; tiến hành tống đạt các văn bản cho đương sự, gửi cho Viện kiểm sát đúng thời hạn quy định.

Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng trình tự, thủ tục được quy định tại chương XIV của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Nguyên đơn thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về nội dung: Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 228, 235,266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự, các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của anh Nguyễn Thành N; Xử cho anh Nguyễn Thành N được ly hôn với chị Lương Thị Y.

Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Lương Việt Bách, sinh ngày 13/8/2009 cho anh Nguyễn Thành N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; Giao con chung là Nguyễn Hải Đăng, sinh ngày 19/12/2015 cho chị Lương Thị Y trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Hai bên không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau và được quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Tài sản chung, nợ chung: Không đề cập giải quyết.

Anh Nguyễn Thành N phải chịu toàn bộ tiền án phí sơ thẩm ly hôn, được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Thành N và chị Lương Thị Y có hộ khẩu thường trú và sinh sống tại xóm Minh Phong, xã Thắng Quân, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Anh Nam có đơn khởi kiện đề nghị Toà án giải quyết ly hôn chị Lương Thị Y. Do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang theo quy định tại các điều 28, 35 và điều 39 của BLTTDS.

Quá trình giải quyết vụ án, chị Lương Thị Y không đến Tòa án để tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật, Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ, xác minh tại địa phương cho thấy, chị Lương Thị Y có hộ khẩu thường trú tại xóm Minh Phong, xã Thắng Quân, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Chị Yến không có mặt tại địa phương khoảng 01 năm nay, không khai báo tạm trú, tạm vắng, nhưng thỉnh thoảng chị Yến vẫn về thăm con có mặt tại địa phương xong lại đi. Như vậy nguyên đơn anh Nguyễn Thành N cung cấp chính xác địa chỉ của bị đơn chị Lương Thị Y, việc chị Yến đi đâu, làm gì không thông báo địa chỉ mới nên hiện tại nguyên đơn, gia đình và địa phương không rõ chị Yến đang làm gì, ở đâu, mặc dù chị Yến vẫn thỉnh thoảng về địa phương nhưng chỉ là về thăm gia đình. Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai các tài liệu theo quy định của pháp luật, nhưng chị Yến không có mặt tại Tòa án, không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Thành N. Đây được xem là trường hợp người bị kiện cố tình che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ nên Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Thành N đăng ký kết hôn với chị Lương Thị Y tại Ủy ban nhân dân xã Thắng Quân, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang vào ngày 08/5/2008, trên cơ sở tự do tìm hiểu. Quan hệ hôn nhân giữa anh Nam và chị Yến là hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hòa thuận, không có phát sinh lớn tại địa phương, nguyên nhân dẫn tới mâu thuẫn vợ chồng là do bất đồng quan điểm, không tôn trọng nhau trong cuộc sống, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2019 nên không thể tồn tại một gia đình hạnh phúc, tiến bộ, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Thành N. Xử cho anh Nguyễn Thành N được ly hôn với chị Lương Thị Y là phù hợp quy định tại điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Anh Nam và chị Yến có 02 con chung là Nguyễn Lương Việt Bách, sinh ngày 13/8/2009 và Nguyễn Hải Đăng, sinh ngày 19/12/2015. Cháu Bách hiện đang do anh Nam trực tiếp nuôi dưỡng, kể từ khi chị Yến không chung sống với anh Nam, chị Yến đã trực tiếp nuôi cháu Nguyễn Hải Đăng. Xét về điều kiện, hoàn cảnh để nuôi con chung Hội đồng xét xử thấy rằng, hiện nay cháu Bách đang học tập, sinh sống ổn định cùng anh Nam tại địa phương, lời khai của cháu Bách mong muốn nguyện vọng ở với anh Nam. Đối với cháu Nguyễn Hải Đăng kể từ khi chị Yến không chung sống với anh Nam chị Yến đã cùng cháu Đăng đi khỏi địa phương. Nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của anh Nam về việc nuôi con chung. Giao con chung là Nguyễn Lương Việt Bách, sinh ngày 13/8/2009 cho anh Nguyễn Thành N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Giao con chung là Nguyễn Hải Đăng, sinh ngày 19/12/2015 cho chị Lương Thị Y trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Hai bên không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí và quyền kháng cáo bản án: Nguyên đơn phải nộp án phí theo theo quy định của pháp luật là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).

Các đương sự được kháng cáo bản án theo quy định của Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 228, 235, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự, các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Thành N.

Xử: Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Nguyễn Thành N được ly hôn với chị Lương Thị Y.

Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Lương Việt Bách, sinh ngày 13/8/2009 cho anh Nguyễn Thành N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Giao con chung là Nguyễn Hải Đăng, sinh ngày 19/12/2015 cho chị Lương Thị Y trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Hai bên không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

2. Về án phí: Anh Nguyễn Thành N phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0001922, ngày 11 tháng 12 năm 2020tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Anh Nguyễn Thành N đã nộp đủ án phí.

3. Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Thành N và chị Lương Thị Y được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

101
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp hôn nhân và gia đình số 83/2021/HNGĐ-ST

Số hiệu:83/2021/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Yên Sơn - Tuyên Quang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:02/04/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về