Bản án về tranh chấp hôn nhân và gia đình số 41/2024/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC

BẢN ÁN 41/2024/HNGĐ-ST NGÀY 20/09/2024 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 165/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 99/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Phùng Thị Kiều O, sinh năm 1989 (vắng mặt).

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Anh Đ, sinh năm 1986 (vắng mặt). Đều có địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn để ngày 24 tháng 6 năm 2024 và những lời khai tiếp theo nguyên đơn chị Phùng Thị Kiều O trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Anh Đ đăng ký kết hôn ngày 10 tháng 9 năm 2008 tại Ủy ban nhân dân phường H, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. Trước khi kết hôn, hai bên được tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn. Sau ngày cưới, chị về ở và làm ăn chung với gia đình anh Đ. Quá trình chung sống, vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc. Năm 2021, vợ chồng chị phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Anh Đ thường xuyên nhắn tin dọa nạt đánh, giết chị dẫn đến chị phải nhiều lần trốn chạy. Tháng 04 năm 2024, vợ chồng chị mâu thuẫn căng thẳng và ly thân cho đến nay. Chị về ở tại gia đình bố mẹ đẻ chị ở thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, cho đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Anh Đ.

Về con chung: Vợ chồng chị có 03 con chung là cháu Nguyễn Kiều A, sinh ngày 18 tháng 4 năm 2010; cháu Nguyễn Thanh H, sinh ngày 25/10/2011 và cháu Nguyễn Anh M, sinh ngày 21/10/2017. Hiện nay, cháu A và cháu H đang ở với chị; cháu M đang ở với anh Đ. Ly hôn, chị xin được nuôi cháu A và cháu H, để anh Đ nuôi cháu M. Chị không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, tài sản riêng, đất canh tác, công sức đóng góp: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về công nợ: Vợ chồng chị không có tài sản cho ai vay và không vay của ai tài sản gì.

- Bị đơn anh Nguyễn Anh Đ vắng mặt tại phiên tòa, nhưng quá trình giải quyết vụ án anh Đ trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh xác nhận về cơ bản như chị O trình bày là đúng. Tuy nhiên, tháng 4/2024, vợ chồng anh bắt đầu phát sinh mâu thuẫn căng thẳng và ly thân cho đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn là do chị O không về nhà anh ở. Anh có nhiều lần gặp trực tiếp chị O bảo chị O về nhà chăm sóc con. Anh cũng có một số lần nhắn tin dọa nạt chị O nhưng mục đích của anh chỉ là để bảo chị O về gia đình. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, đề nghị Tòa án giải quyết không chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị O.

Về con chung: Vợ chồng anh có ba con chung và hiện cháu A và cháu H đang ở với chị O, cháu M đang ở với anh, cụ thể như chị O trình bày là đúng. Nếu ly hôn, anh xin được nuôi cháu M, để chị O nuôi cháu A và cháu H, không yêu cầu chị O cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, tài sản riêng, đất canh tác, công sức đóng góp: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về công nợ: Vợ chồng anh không có tài sản cho ai vay và không vay của ai tài sản gì.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tiến hành theo đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự, như: Cung cấp đầy đủ, kịp thời các chứng cứ, tài liệu liên quan đến việc giải quyết vụ án cho Tòa án, có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án. Về giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án để chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Phùng Thị Kiều O, cho chị O được ly hôn anh Nguyễn Anh Đ; về con chung: Giao cháu Nguyễn Kiều A và cháu Nguyễn Thanh H cho chị O trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu Nguyễn Anh M cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng. Chị O, anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con; về án phí: Chị O phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân. Do bị đơn anh Nguyễn Anh Đ có nơi cư trú tại thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc nên Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tổ Tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của nguyên đơn chị Phùng Thị Kiều O, bị đơn anh Nguyễn Anh Đ, Hội đồng xét xử thấy rằng: Nguyên đơn chị Phùng Thị Kiều O, bị đơn anh Nguyễn Anh Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng chị O, anh Đ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị O, anh Đ.

[2]. Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị O và anh Đ xác lập quan hệ vợ chồng có đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật nên hôn nhân của chị O và anh Đ là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Tại phiên tòa hôm nay, cũng như trong quá trình giải quyết tại Tòa án, chị O cương quyết xin ly hôn còn anh Đ không đồng ý ly hôn.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Phùng Thị Kiều O, Hội đồng xét xử thấy rằng: Quan hệ hôn nhân giữa chị O và anh Đ đã phát sinh mâu thuẫn căng thẳng từ tháng 4 năm 2024 và ly thân cho đến nay. Nguyên nhân theo lời trình bày của chị O là do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Anh Đ thường xuyên nhắn tin dọa nạt đánh, giết chị dẫn đến chị phải nhiều lần trốn chạy. Nguyên nhân theo lời trình bày của anh Đ là do chị O không về nhà anh ở. Anh Đ có nhiều lần gặp trực tiếp chị O bảo chị O về nhà chăm sóc con. Anh Đ cũng có một số lần nhắn tin dọa nạt chị O nhưng mục đích của anh Đ chỉ là để bảo chị O về gia đình.

Kết quả xác minh tại địa phương cho thấy, chị O, anh Đ đang sống ly thân. Chị O ở tại gia đình bố mẹ để chị O ở thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Nay chị O xin ly hôn anh Đ, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Hội đồng xét xử thấy rằng, hôn nhân phải được xây dựng trên cơ sở tự nguyện của hai bên, nay chị O kiên quyết xin ly hôn, anh Đ không đồng ý ly hôn. Tuy nhiên, anh Đ xác nhận anh có nhiều lần gặp trực tiếp chị O bảo chị O về nhà chăm sóc con. Anh cũng có một số lần nhắn tin dọa nạt chị O nhưng mục đích của anh chỉ là để bảo chị O về gia đình nhưng thực tế cho đến nay chị O không đồng ý, điều đó chứng tỏ tình cảm của chị O đối với anh Đ không còn. Xét thấy yêu cầu xin ly hôn của chị O là có căn cứ vì cuộc sống vợ chồng giữa chị O và anh Đ không có hạnh phúc, quan hệ hôn nhân đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân của chị O và anh Đ không đạt được. Anh Đ không đồng ý ly hôn nhưng không đưa ra được biện pháp gì để hàn gắn quan hệ vợ chồng nên Hội đồng xét xử cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị O.

- Về con chung: Vợ chồng chị O, anh Đ có 03 con chung là cháu Nguyễn Kiều A, sinh ngày 18 tháng 4 năm 2010, cháu Nguyễn Thanh H, sinh ngày 25/10/2011 và cháu Nguyễn Anh M, sinh ngày 21/10/2017. Hiện nay, cháu A và cháu H đang ở với chị O; cháu M đang ở với anh Đ. Quá trình giải quyết vụ án, chị O xin được nuôi cháu A và cháu H; anh Đ xin được nuôi cháu M. Chị O, anh Đ không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Xét yêu cầu của chị O, anh Đ về việc được trực tiếp nuôi con là chính đáng. Tòa án đã lấy lời khai của cháu A, cháu H. Cháu A và cháu H đều có nguyện vọng được ở với chị O. Cháu M chưa đủ 07 tuổi nên không thuộc trường hợp phải lấy lời khai. Quá trình xác minh tại địa phương xác định chị O, anh Đ đều có khả năng nuôi con nên cần giao cho chị O nuôi cháu A, cháu H; giao cho anh Đ nuôi cháu M. Chị O, anh Đ không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung, tài sản riêng, đất canh tác, công sức đóng góp: Vì chị O, anh Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về công nợ: Không có.

[3]. Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc giải quyết vụ án là có căn cứ, được xem xét khi quyết định.

[4]. Về án phí: Chị Phùng Thị Kiều O phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Anh Nguyễn Anh Đ không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

[5]. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

1. Cho chị Phùng Thị Kiều O được ly hôn anh Nguyễn Anh Đ.

2. Về con chung:

2.1. Chị Phùng Thị Kiều O được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Kiều A, sinh ngày 18 tháng 4 năm 2010; cháu Nguyễn Thanh H, sinh ngày 25/10/2011; anh Nguyễn Anh Đ được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Anh M, sinh ngày 21/10/2017.

Chị Phùng Thị Kiều O, anh Nguyễn Anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

2.2. Chị Phùng Thị Kiều O, anh Nguyễn Anh Đ có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Phùng Thị Kiều O phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0007071 ngày 08 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc. Chị O đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

84
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp hôn nhân và gia đình số 41/2024/HNGĐ-ST

Số hiệu:41/2024/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tam Dương - Vĩnh Phúc
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:20/09/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về