Bản án về tranh chấp hôn nhân và gia đình số 136/2023/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

BẢN ÁN 136/2023/HNGĐ-ST NGÀY 08/12/2023 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Trong ngày 08/12/2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện C xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 515/2023/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình về ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 576/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trương Thị H, sinh năm 1964;

Địa chỉ: Ấp H, xã Mỹ L, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

Bị đơn: Ông Sôi Thanh L (Xôi Thanh L), sinh năm 1973; Địa chỉ: Ấp H, xã Mỹ L, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

(Bà H và ông L có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

1. Theo đơn khởi kiện và biên bản hòa giải ngày 02/11/2023 bà Trương Thị H trình bày:

- Về hôn nhân: Bà H và ông Sôi Thanh L (Xôi Thanh L) sống chung với nhau vào năm 1999, không có đăng ký kết hôn. Trong thời gian chung sống với nhau, giữa bà H và ông L thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, ông L không quan tâm đến vợ con. Hiện bà và ông L đã sống ly thân 04 năm nay. Nay nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, nên bà H yêu cầu được ly hôn với ông Sôi Thanh L (Xôi Thanh L).

- Về con chung: Bà H và ông L có 02 con chung tên Sôi Văn T, sinh ngày 11/11/2000 và Trương Hoàng Â, sinh ngày 07/4/2003. Hiện con chung đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Tại biên bản hoà giải ngày 02/11/2023, bị đơn ông Sôi Thanh L (Xôi Thanh L) trình bày:

- Về hôn nhân: Ông L thừa nhận thời gian chung sống với nhau, cũng như việc vợ chồng không có đăng ký kết hôn như bà H trình bày. Vợ chồng sống chung do bất đồng về quan điểm trong cuộc sống dẫn đến mâu thuẫn với nhau là đúng. Hiện nay, ông và bà H đã sống ly thân 04 năm nay. Nay vợ chồng không xây dựng được hạnh phúc nên ông L cũng đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà Trương Thị H.

- Về con chung: Bà H và ông L có 02 con chung tên Sôi Văn T, sinh ngày 11/11/2000 và Trương Hoàng Â, sinh ngày 07/4/2003. Hiện con chung đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án:

- Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp:

+ Căn cước công dân Trương Thị H (bản photo);

+ Căn cước công dân Sôi Văn T(bản photo);

+ Giấy khai sinh Trương Hoàng  (bản photo);

- Tài liệu, chứng cứ do bị đơn cung cấp:

+ Căn cước công dân Xôi Thanh L (bản photo).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật: Căn cứ vào đơn yêu cầu ly hôn của bà Trương Thị H về việc yêu cầu được ly hôn với ông Sôi Thanh L (Xôi Thanh L), nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật của vụ án này là “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình về ly hôn, nuôi con”.

[2] Về thẩm quyền: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình về việc xin ly hôn giữa các đương sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn hiện nay đang cư trú tại xã Mỹ L, huyện C nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về tố tụng: Bà Trương Thị H và ông Sôi Thanh L (Xôi Thanh L) có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà H và ông L.

[4] Xét yêu cầu của nguyên đơn:

Về hôn nhân: Bà Trương Thị H và ông Sôi Thanh L (Xôi Thanh L) chung sống với nhau vào năm 1999, nhưng bà H và ông L không đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nên không được pháp luật công nhận là vợ chồng. Trong quá trình sống chung, bà H và ông L không xây dựng được hạnh phúc gia đình nên bà H yêu cầu được ly hôn với ông L. Tuy nhiên, do bà H và ông L sống chung với nhau nhưng không đăng ký kết hôn, nên Hội đồng xét xử không xem xét việc yêu cầu xin ly hôn của bà H. Bởi lẻ, tại khoản 1 Điều 14 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng”. Do đó, không công nhận bà Trương Thị H và ông Sôi Thanh L (Xôi Thanh L) là vợ chồng.

- Về con chung: Trong quá trình sống chung bà H và ông L có 02 con chung tên Sôi Văn T, sinh ngày 11/11/2000 và Trương Hoàng Â, sinh ngày 07/4/2003. Hiện nay, con chung đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà H và ông L trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.

[6] Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, thì bà H phải chịu 300.000đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà H đã nộp theo biên lai số 0004517 ngày 10/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 9, 14, 53, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Về hôn nhân: Không công nhận bà Trương Thị H và ông Sôi Thanh L (Xôi Thanh L) là vợ chồng.

- Về con chung: Bà H và ông L thống nhất có 02 con chung tên Sôi Văn T, sinh ngày 11/11/2000 và Trương Hoàng Â, sinh ngày 07/4/2003. Hiện nay, con chung đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về án phí: Bà Trương Thị H phải chịu 300.000đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà H đã nộp theo biên lai số 0004517 ngày 10/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

- Các đương sự có quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

94
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp hôn nhân và gia đình số 136/2023/HNGĐ-ST

Số hiệu:136/2023/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Cao Lãnh - Đồng Tháp
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:08/12/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về