TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
BẢN ÁN 102/2024/HNGĐ-ST NGÀY 29/03/2024 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
Ngày 29 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 387/2023/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 64/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 02 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Phan Văn T, sinh năm 1993; địa chỉ cư trú trước xuất cảnh: Xóm H, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An; nơi ở hiện nay: Số D, đường N, khu B thành phố Đ, Đài Loan; vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Chị Phạm Thị L, sinh năm 1997; địa chỉ cư trú trước khi xuất cảnh: Xóm A, xã H (nay là xã X), huyện H, tỉnh Nghệ An. Hiện đang ở Đài Loan; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, đơn xin xét xử vắng mặt, nguyên đơn anh Phan Văn T trình bày:
Anh và chị Phạm Thị L kết hôn với nhau trên tinh thần tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã X, huyện H, tỉnh Nghệ An vào ngày 20/01/2017. Thời gian đầu tuy cuộc sống vất vả nhưng hai vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau. Đến năm 2020 do cuộc sống khó khăn nên anh đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Thời gian đầu vợ chồng vẫn thường xuyên liên lạc, quan tâm nhau. Sau này do sống xa cách nhau nên tình cảm vợ chồng phai nhạt dần, dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra xung đột trong cuộc sống hôn nhân, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau.
Ngày 08/10/2023 anh từ Đài Loan về Việt Nam. Hiện nay anh thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, anh đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho anh được ly hôn với chị Phạm Thị L.
Về con chung: Anh và chị Phạm Thị L không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với bị đơn chị Phạm Thị L, do vợ chồng không liên lạc gì với nhau nên anh Phan Văn T1 không cung cấp được địa chỉ cụ thể của chị L ở Đài Loan. Theo anh T trình bày chị L vẫn thường xuyên liên lạc về với bố mẹ đẻ là ông Phạm Xuân S, bà Nguyễn Thị T2; cùng địa chỉ cư trú: Xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An và ông S, bà T2 biết địa chỉ cụ thể của chị L ở Đài Loan; đề nghị Tòa án tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ để làm căn cứ giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã gửi văn bản cho ông Phạm Xuân S, bà Nguyễn Thị T2 (là bố mẹ đẻ của chị Phạm Thị L) thông báo về việc Tòa án đang thụ lý, giải quyết vụ án để ông S, bà T2 thông báo cho chị L và đề nghị chị L nêu ý kiến về yêu cầu khởi kiện của anh T1. Tòa án cũng đã niêm yết các văn bản tố tụng bao gồm Thông báo về việc thụ lý vụ án, Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm, Quyết định hoãn phiên tòa tại nơi cư trú của chị L trước khi đi nước ngoài. Tuy nhiên, chị L không có ý kiến gì và vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật, bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho anh Phan Văn T và chị Phạm Thị L được ly hôn. Về con chung: Anh T và chị L không có con chung nên đề nghị không xem xét, giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét do nguyên đơn không yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án Hôn nhân và Gia đình có đương sự hiện đang ở Đài Loan. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, Điều 40 và Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[2] Về thủ tục tố tụng: Chị Phạm Thị L hiện đang ở Đài Loan, không có địa chỉ cụ thể. Ông Phạm Xuân S, bà Nguyễn Thị T2 (là bố mẹ đẻ của chị L) đã thông báo cho con gái về việc thụ lý vụ án của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Tòa án cũng đã niêm yết các văn bản tố tụng liên quan theo quy định pháp luật đồng thời yêu cầu ông S, bà T2 cung cấp địa chỉ cụ thể của chị L ở Đài Loan nhưng ông S, bà T2 không cung cấp được. Tính đến ngày mở phiên tòa xét xử lần thứ hai, Tòa án không nhận được bất cứ văn bản nào của chị L trình bày về yêu cầu khởi kiện ly hôn của anh T nên được coi như trường hợp bị đơn có tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết và vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn anh Phan Văn T vắng mặt và có đơn xin xử vắng mặt, bị đơn chị Phạm Thị L vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa vắng mặt các đương sự.
[3] Xét nội dung vụ án và các ý kiến, yêu cầu của đương sự:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Phan Văn T và chị Phạm Thị L kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng sống chung hạnh phúc một thời gian thì đã phát sinh mâu thuẫn. Về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng do tính tình không hợp, anh T và chị L đang sinh sống làm việc ở tại Đài Loan, tuy nhiên hai bên không còn liên lạc, quan tâm nhau, tình cảm vợ chồng phai nhạt dần. Anh T có nguyện vọng được ly hôn với chị L. Xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa anh T và chị L không còn, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng. Vì vậy, nếu kéo dài cuộc hôn nhân này thì mục đích hôn nhân không đạt được. Cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho anh T được ly hôn với chị L là phù hợp Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[3.2] Về con chung: Anh Phan Văn T và chị Phạm Thị L không có con chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét.
[3.3] Về tài sản chung, nợ chung: Anh Phan Văn T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Các bên có quyền khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết bằng một vụ án dân sự khác nếu có yêu cầu.
[4] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn anh Phan Văn T phải chịu án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, Điều 40, khoản 1 Điều 207; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 469 và Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Điều 56, Điều 122, Điều 123 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Phan Văn T.
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Phan Văn T được ly hôn với chị Phạm Thị L.
- Về con chung: Tòa án không giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Các bên có quyền khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung bằng một vụ án dân sự khác nếu có yêu cầu.
2. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc anh Phan Văn T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000 (ba trăm nghìn) đồng số tiền tạm ứng đã nộp tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Nghệ An theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0001328 ngày 15 tháng 11 năm 2023.
3. Anh Phan Văn T, chị Phạm Thị L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Bản án về tranh chấp hôn nhân và gia đình số 102/2024/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 102/2024/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Nghệ An |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 29/03/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về