Bản án về tranh chấp hôn nhân và gia đình số 05/2024/HNGĐ-PT

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

BẢN ÁN 05/2024/HNGĐ-PT NGÀY 29/01/2024 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Ngày 29 tháng 01 năm 2024 Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 16/2023/TLPT-HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.

Do bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 42/2023/HNGĐ-ST ngày 25 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 19/2023/QĐXX-PT ngày 03 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Lê Bách T, sinh năm 1982. (Có mặt) Địa chỉ: Xóm A, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

2. Bị đơn: Chị Lê Thị Y, sinh năm 1987. (Có mặt) Địa chỉ: Xóm A, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

3.1. Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Quang H - Chức vụ: Trưởng phòng Tài Nguyên và môi trường huyện. (Vắng mặt).

3.2 Anh Lê Văn T1, sinh năm 1987. (Anh T1 ủy quyền cho bà T3) Địa chỉ: Xóm A, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt)

3.3. Bà Bùi Thị T3, sinh năm 1963. (Có mặt) Địa chỉ: Xóm A, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

4. Người kháng cáo: Bà Bùi Thị T3 là người có quyền và nghĩa vụ liên quan.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo nội dung vụ án, quyết định của Toà án cấp sơ thm, nội dung kháng cáo, tóm tắt như sau:

Nguyên đơn anh Lê Bách T trình bày: Tôi và chị Lê Thị Y kết hôn năm 2008. Trước khi cưới có được tìm hiểu và lấy nhau tự nguyện. Có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Sau khi cưới về chung sống với bố mẹ tôi tại xóm A, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên được một thời gian thì ra ăn riêng ở riêng để tạo dựng cuộc sống. Thời gian đầu vợ chồng sống hòa hợp hạnh phúc. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ năm 2016 nguyên nhân do tôi đi làm xa ở nhà chị Y ngoại tình với người khác, tôi đã khuyên bảo nhưng chị Y không thay đổi dẫn đến tình cảm vợ chồng phát sinh rất nhiều mâu thuẫn. Tôi và chị Y sống ly thân từ năm 2019 đến nay không ai quan tâm đến ai. Nay tôi xác định tình cảm vợ chồng không còn đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với chị Y.

Về con chung: Tôi và chị Y có 01 con chung là Lê Thị Hồng T4, sinh ngày 04/03/2010. Khi ly hôn tôi có nguyện vọng được nuôi con chung. Tôi không yêu cầu chị Y phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Tôi và chị Y có 01 diện tích đất nhận chuyển nhượng của người khác đã được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BĐ 842249 ngày 29/6/2012 mang tên hộ ông Lê Bách T và Lê Thị Y. Thửa đất này có diện tích 1724m2 trong đó đất ở tại nông thôn 400m2, đất trồng cây lâu năm 1.324m2. Vợ chồng tôi mua đất năm 2010 với giá 30.000.000đ trong đó vợ chồng tôi có 20.000.000đ còn bố mẹ tôi cho 10.000.000đ.

Tài sản trên đất có 01 nhà xây cấp IV + tum và các công trình phụ trên đất nhu bếp, bờ rào, nhà tắm, nhà vệ sinh được xây dựng năm 2014 cùng các vật dụng trong gia đình. Nhà do bố mẹ tôi là ông Lê Văn T5 (chết năm 2016) và mẹ tôi Bùi Thị T3 bỏ tiền ra xây dựng, bố tôi là người trực tiếp thuê thợ về làm và đứng ra thanh toán mọi chi phí xây dựng, còn vật dụng trong gia đình do vợ chồng tôi mua sắm. Khi ly hôn tôi yêu cầu chia tài sản theo quy định của pháp luật, tôi yêu cầu được sử dụng phần đất có nhà do bố mẹ tôi xây dựng tôi sẽ trích chia tiền cho chị Y. Ngoài ra vợ chồng không còn tài sản gì khác.

Về nợ chung: Vợ chồng tôi có nợ mẹ đẻ tôi là bà Bùi Thị T3 số tiền 71.000.000đ (bảy mươi mốt triệu đồng), khi vay có viết giấy vay nợ. Nay vợ chồng ly hôn tôi đề nghị vợ chồng phải có trách nhiệm trả số tiền đó cho mẹ tôi.

Bị đơn chị Lê Thị Y trình bày: Tôi và anh Lê Bách T kết hôn năm 2008. Trước khi cưới có được tìm hiểu và lấy nhau tự nguyện. Có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Sau khi cưới về chung sống với bố mẹ anh T tại xóm A, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên được một thời gian thì ra ăn riêng ở riêng để tạo dựng cuộc sống. Thời gian đầu vợ chồng sống hòa hợp hạnh phúc. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ năm 2016 nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tôi và anh T thường xuyên xảy ra cãi chửi nhau. Nay tôi xác định tình cảm vợ chồng không còn đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng tôi được ly hôn.

Về con chung: Tôi và anh T có 01 con chung là Lê Thị Hồng T4, sinh ngày 04/03/2010. Khi ly hôn tôi có nguyện vọng được con chung. Tôi không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Tôi và anh T có 01 diện tích đất nhận chuyển nhượng của người khác đã được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BĐ 842249 ngày 29/6/2012 mang tên hộ ông Lê Bách T và Lê Thị Y. Thửa đất này có diện tích 1.724m2 trong đó đất ở tại nông thôn 400m2, đất trồng cây lâu năm 1324m2. Vợ chồng tôi mua đất năm 2010 với giá 27.000.0000đ toàn bộ số tiền đó là của hai vợ chồng tôi, bố chồng chỉ cho 1.000.000đ để đi làm thủ tục nộp thuế.

Tài sản trên đất có 01 nhà xây cấp IV + tum và các công trình phụ trên đất như bếp, bờ rào, nhà tắm, nhà vệ sinh được xây dựng năm 2014 cùng các vật dụng trong. Số tiền xây nhà do bố mẹ chồng tôi bỏ ra, tuy nhiên trước đây bố mẹ tôi có hứa cho vợ chồng tôi 01 thửa đất chè nhưng chưa làm thủ tục sang tên đến khi có dự án Núi Pháo thửa đất đó được đền bù, bố mẹ chồng tôi nhận tiền đền bù 350.000.000đ (ba trăm năm mươi triệu đồng), toàn bộ số xây nhà do bố chồng tôi đứng ra thanh toán. Vật dụng trong gia đình do vợ chồng tôi mua. Nay ly hôn tôi đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, tôi có nguyện vọng sử dụng nhà và trả tiền cho anh T, bà T3 theo quy định. Nếu như không được sử dụng nhà đề nghị anh T có trách nhiệm thanh toán tiền cho tôi để tôi có điều kiện làm nhà nuôi con.

Về nợ chung và tài sản cho vay: không có. Việc anh T vay tiền bà T3 là vay riêng không liên quan gì đến tôi.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị T3 trình bày: Tôi là mẹ đẻ anh Lê Bách T. Anh T và chị Y ly hôn tôi không có ý kiến gì về quan hệ hôn nhân tuy nhiên tôi xác định thửa số 219, tờ bản đồ số 62, diện tích 1.724m2 đất anh T và chị Y nhận chuyển nhượng của người khác đã được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại xóm A, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, anh T và chị Y mua năm 2010 với giá 30.000.000đ trong đó anh T và chị Y chỉ có 20.000.000đ còn lại là tiền của tôi đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan gửi về để anh T và chị Y mua đất, số tiền đó tôi gửi qua chồng tôi là Lê Văn T5 (đã chết). Đến năm 2014 anh T và chị Y xây nhà vợ chồng tôi là người bỏ ra toàn bộ số tiền cho anh T và chị Y xây dựng, chồng tôi là Lê Văn T5 là người trực tiếp thuê thợ và thanh toán chi phí xây nhà với tổng số tiền xây dựng hết 300.000.000 đồng. Mục đích vợ chồng tôi bỏ tiền ra xây nhà vì có mong muốn xây nhà để sau này về già vợ chồng tôi sẽ về ở chung cùng anh T và chị Y, nhưng đến nay anh T và chị Y ly hôn và chia tài sản tôi yêu cầu phải trả lại tài sản là một phần đất và nhà cho tôi.

Ngoài ra anh T và chị Y còn vay tôi 71.000.000đ (bảy mươi mốt triệu đồng) để trả nợ ngân hàng N - Chi nhánh huyện Đ. Nay tôi yêu cầu anh T và chị Y phải trả cho tôi số tiền tôi đã cho anh chị vay.

Tại phiên tòa sơ thẩm bà T3 có đơn xin rút lại yêu cầu đối với việc đề nghị anh T6 và chị Y trả bà T3 số tiền 71.000.000đ.

Người có quyền và nghĩa vụ liên quan là Đại diện theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đề nghị Tòa án nhân dân huyện giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Tại bản án số 42/2023/HNGĐ-ST ngày 25 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đã xét xử và quyết định:

Căn cứ vào các Điều 28, 143, 147, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 58, 59, 60, 62, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Lê Bách T và chị Lê Thị Y.

Tuyên xử:

1. Về con chung: Giao con chung Lê Thị Hồng T4, sinh ngày 04/3/2010 cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các đương sự có thể yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

Về quyền thăm nom con chung: Anh T được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết do đương sự không đề nghị.

2. Về tài sản chung:

+ Giao cho anh T được sử dụng thửa đất có sơ đồ S1 diện tích 574,7 m2 trong đó 240,5m2 đất thổ cư, 334, 2m2 đất trồng cây lâu năm. Anh T được quyền sở hữu và sử dụng toàn bộ tài sản trên thửa đất có sơ đồ S1 bao gồm nhà xây cấp IV + tum, nhà bếp + Công trình phụ, sân gạch đỏ, mái tôn và các vật dụng trong gia đình gồm: 01 ti vi, 01 máy giặt, 01 bộ bàn ghế gỗ soan, 01 kệ ti vi gỗ lát, 01 bình nóng lạnh. (có sơ đồ kèm theo) - Anh T có trách nhiệm thanh toán cho bà Bùi Thị T3 và ông Lê Văn T5 (đã chết), người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông T5 gồm bà T3, anh T và anh T1 số tiền 174.000.000đ (một trăm bẩy mươi tư triệu đồng) bằng 1/3 giá trị công sức xây nhà cấp IV + tum và nhà bếp.

- Anh T có trách nhiệm thanh toán cho chị Lê Thị Y 214.000.000đ, (hai trăm mười bốn triệu đồng) bao gồm 1/3 tiền trích chia nhà, bếp và 1/2 tiền giá trị chênh lệch tài sản chung.

Tổng giá trị tài sản anh T được hưởng sau khi trích chia cho bà T3 và chị Y là 393.000.000đ (ba trăm chín mươi ba triệu đồng).

+ Giao cho chị Y được quyền sử dụng 631,5m2 đất có sơ đồ S2 trong đó có 159,5m2 đất thổ cư và 472m2 đất trồng cây lâu năm và số tiền 214.000.000đ (hai trăm mười bốn triệu đồng) tiền do anh T thanh toán chênh lệch tài sản. (có sơ đồ kèm theo) + Bà T3 và người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Lê Văn T5 (đã chết) được quyền sở hữu và sử dụng 174.000.000đ (một trăm bẩy mươi bốn triệu đồng) tiền công sức đóng góp xây nhà do anh T thanh toán.

+ Tạm giao cho anh Lê Bách T quản lý 466,1m2 đất và các tài sản trên đất tại thửa số 207 tờ bản đồ số 62 có sơ đồ S3 kèm theo, nếu có tranh chấp được giải quyết bằng vụ án khác. (có sơ đồ kèm theo) 3. Về lệ phí, án phí.

- Về lệ phí: Bà T3 tự nguyện chịu lệ phí thẩm định và định giá tài sản (đã thanh toán xong).

Về án phí:

- Anh T phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm và 19.650.000 đ (mười chín triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng) án phí chia tài sản nộp vào ngân sách Nhà nước được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003731 ngày 27/04/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đại Từ. Anh T còn phải nộp tiếp số tiền 19.350.000đ (mười chín triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng).

- Chị Y phải chịu 19.600.000đ (mười chín triệu sáu trăm nghìn đồng) án phí chia tài sản nộp ngân sách nhà nước.

- Bà T3 chịu 8.700.000đ (tám triệu bẩy trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự, được trừ vào số tiền 7.500.000 đ tiền tạm ứng án phí bà T3 đã nộp tại biên lai số 0013895 ngày 11/8/2021. Bà T3 còn phải nộp 1.200.000đ tiền án phí sung công quý nhà nước.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 08/9/2023 bà Bùi Thị T3 có đơn kháng cáo không đồng ý đối với quyết định của bản án sơ thẩm về việc anh T phải có trách nhiệm trích chia cho chị Y số tiền 214.000.000đ và bà T3 không đồng ý đối với quyết định về việc bà T3 là người tự nguyện đóng toàn bộ lệ phí về việc thẩm định, định giá. Bà yêu cầu giải quyết lại về việc phân chia tài sản và tiền thẩm định, định giá theo quy định.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bà T3 giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện VKS phát biểu sự tuân theo pháp luật của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. về quan điểm giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm:

Áp dụng Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự. Không chấp nhận đơn kháng cáo của bà Bùi Thị T3 . Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 42/2023/HNGĐ-ST ngày 25/8/2023 của TAND huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên như đã phân tích ở trên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe đại diện Viện kim sát phát biu ý kiến, Hội đng xét xử phân tích, đánh giá, nhận định như sau:

[1.]. Về thủ tục tố tụng dân sự: Đơn kháng cáo của của bà Bùi Thị T3 làm trong hạn luật định, đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm, do đó kháng cáo của anh T3 là hợp lệ và được thụ lý và đưa ra xét xử theo trình tự phúc thẩm đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Người có quyền lợi liên quan là Đại diện Ủy ban nhân dân huyện Đ có đơn xin xét xử vắng mặt, đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự tiếp tục xét xử vắng mặt người có quyền và nghĩa vụ liên quan.

[2.]. Xét yêu cầu kháng cáo của bà Bùi Thị T3:

[2.1.] Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Bùi Thị T3 không đồng ý với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm về việc giao anh T được sở hữu và sử dụng toàn bộ tài sản trên thửa đất trong đó có nhà xây cấp IV + Tum, nhà bếp, công trình phụ, sân gạch đỏ, mái tôn và các vật dụng trong gia đình mà anh T phải trích chia cho chị Y số tiền 214.000.000đ. Bà T3 cho rằng thời điểm xây dựng ngôi nhà vào khoảng năm 2014 đến 2015 giá trị xây dựng thời điểm đó là 300.000.000đ. số tiền này là do bà và chồng bà là người đứng ra chi trả, anh T và chị Y đều thừa nhận điều đó. Nay vợ chồng anh T chị Y ly hôn, anh T phải trả cho chị Y số tiền 214.000.000đ bà T3 không đồng ý. Bà T3 đã làm đơn kháng cáo và tại phiên tòa phúc thẩm bà T3 giữ nguyên nội dung kháng cáo. Hội đồng xét xử nhận thấy, quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm anh T, chị Y đều khai căn nhà do bố mẹ chị là ông T5 bà T3 bỏ tiền ra xây dựng, với chi phí xây dựng là 300.000.000đ (Theo biên bản định giá ngày 25/01/2022 thể hiện nhà xây trên đất và bếp có giá trị là 522.000.000đ). Bà T3 yêu cầu anh T chị Y khi ly hôn phải trả lại cho bà công sức xây dựng ngôi nhà là có căn cứ. Anh T, chị Y có công sức trong việc duy trì, tôn tạo ngôi nhà nên trong quá trình giải quyết chia tài sản của vợ chồng anh T chị Y cũng nên xem xét đến công sức của anh T, chị Y đối với căn nhà này. Cấp sơ thẩm chấp nhận thanh toán cho bà T3 và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Lê Văn T5 1/3 giá trị ngôi nhà cấp IV và bếp là phù hợp. Do đó, không có căn cứ chấp nhận đối với kháng cáo của bà T3 về việc anh T trích chia chênh lệch cho chị Y.

[2.2.] Đối với kháng cáo của bà T3 về việc giải quyết lại chi phí tạm ứng án phí, lệ phí về việc thẩm định định giá. Bà T3 không đồng ý chịu toàn bộ lệ phí thẩm định như trong bản án sơ thẩm đã tuyên.

Thấy, theo quy định tại khoản 2 Điều 157 Bộ luật tố tụng dân sự: Về nghĩa vụ chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ “Trường hợp yêu cầu Tòa án chia tài sản chung thì mi người được chia tài sản phải chịu phần chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ theo tỷ lệ giá trị phần tài sản mà họ được chia”.

Anh T, chị Y là người được chia tài sản trong vụ án này do vậy để xem xét về lệ phí, chi phí thẩm định anh T chị Y cũng phải chịu khoản tiền này. Bà T3 đã nộp tạm ứng chi phí thẩm định, định giá số tiền 6.000.000đ, anh T, chị Y có trách nhiệm hoàn trả lại cho bà T3 số tiền nộp tạm ứng mỗi người là 2.000.000đ.

Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm bà T3 xác nhận đã được quyết toán phần chi phí thẩm định, định giá tài sản và bà không có ý kiến đề nghị gì nữa về nội dung này. Do đó, Hội đồng xét xử không giải quyết.

[2.3.] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà T3, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 42/2023/HNGĐ-ST ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên theo quy định tại khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3]. Về án phí: Bà T3 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào khoản tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0002637 ngày 08/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[5]. Ý kiến phát biểu, đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa là phù hợp quy định của pháp luật, nên cần được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ, áp dụng pháp luật của cấp phúc thẩm:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308, khoản 1 Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

2. Tuyên xử:

2.1. Không chấp nhận kháng cáo của bà Bùi Thị T3 .

2.2. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 42/2023/HNGĐ-ST ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên về việc chia tài sản chung.

3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà T3 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào khoản tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0002637 ngày 08/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành./.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

186
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp hôn nhân và gia đình số 05/2024/HNGĐ-PT

Số hiệu:05/2024/HNGĐ-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thái Nguyên
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:29/01/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về