Bản án về tranh chấp hôn nhân và gia đình số 04/2024/HNGĐ-PT

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

BẢN ÁN 04/2024/HNGĐ-PT NGÀY 29/01/2024 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Ngày 29 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 22/2023/TLPT-HNGĐ ngày 08 tháng 11 năm 2023 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình. Do bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 41/2023/HNGĐ-ST ngày 28 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên bị kháng cáo. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 25/QĐPT-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Lê Văn M, sinh năm 1991. (Có mặt tại phiên tòa) Địa chỉ: Xóm H, xã L, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

2. Bị đơn: Chị Bùi Thị M1, sinh năm 1990. (Có mặt tại phiên tòa) Địa chỉ: Xóm C, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

3. Người kháng cáo: Chị Bùi Thị M1 là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo nội dung bản án sơ thẩm nguyên đơn anh Lê Văn M trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh M kết hôn với chị Bùi Thị M1 năm 2016, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Trước khi kết hôn hai anh chị được tìm hiểu và tự nguyện đến với nhau, không bị ai lừa dối, cưỡng ép. Sau khi kết hôn, chị M1 vẫn chung sống với gia đình bố mẹ đẻ ở xóm C, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, còn anh M sinh hoạt và làm việc ở đơn vị bộ đội của anh M. Quá trình chung sống, anh M và chị M1 thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Đến nay anh M xác định đã hết tình cảm với chị M1, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Bùi Thị M1.

Về con chung: Anh và chị M1 có 02 con chung là Lê Hoàng Phương T, sinh ngày 24/10/2016 và Lê Minh Q, sinh ngày 03/9/2019. Hiện hai con đang ở với chị M1. Anh M xác định do điều kiện hoàn cảnh hiện nay anh ở trong đơn vị, việc chăm sóc nuôi dưỡng con không đảm bảo nên anh đồng ý để hai con cho chị M1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng anh sẽ có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai và quá trình giải quyết tại Tòa án bị đơn chị Bùi Thị M1 trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị M1 và anh Lê Văn M kết hôn với nhau năm 2016, có đăng ký kết hôn theo quy định tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, hai anh chị được tìm hiểu và đến với nhau tự nguyện, không bị ai lừa dối, cưỡng ép. Sau khi kết hôn chị vẫn chung sống với bố mẹ đẻ ở xóm C, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, còn anh M sinh hoạt và làm việc tại đơn vị bộ đội. Trong quá trình chung sống, hai anh chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cuộc sống không hạnh phúc do anh M mải chơi, xúc phạm vợ. Mâu thuẫn vợ chồng xảy ra nhiều lần. Đến tháng 7/2017 mâu thuẫn xảy ra đỉnh điểm, anh M đánh chị. Chị M1 xác định đã hết tình cảm với anh M, nhưng vì con chị M1 không muốn gia đình phải tan vỡ, nên chị không đồng ý ly hôn với anh M.

Về con chung: Chị và anh M có 02 con chung Lê Hoàng Phương T, sinh ngày 24/10/2016 và Lê Minh Q, sinh ngày 03/9/2019. Chị M1 có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai con chung và yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con Lê Hoàng Phương T là 3.000.000 đồng/tháng và cấp dưỡng đối với con Lê Minh Q là 1.500.000 đồng/tháng.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Với nội dung trên, tại bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 41/2023/HNGĐ-ST ngày 28 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên đã xét xử và quyết định:

Căn cứ vào Điều 264 Bộ luật tố tụng dân sự.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Văn M xin ly hôn chị Bùi Thị M1.

Áp dụng: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; 271; 273 Bộ luật tố tụng dân sự, các Điều 51; 56 và Điều 81; 82; 83; 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Văn M được ly hôn với chị Bùi Thị M1.

2. Về con chung: Giao con chung là Lê Hoàng Phương T, sinh ngày 24/10/2016 và Lê Minh Q, sinh ngày 03/9/2019 cho chị M1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sụ thay đổi khác. Anh M có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung Lê Hoàng Phương T là 1.500.000đ/tháng và cấp dưỡng nuôi con chung là Lê Minh Q là 1.500.000đ/tháng cho đến khi cháu T và cháu Q đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Anh M được quyền đi lại thăm con chung không bị ai cản trở.

Kể từ ngày người có quyền được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án chậm thi hành thì phải chịu lãi suất đối với số tiền chậm thi hành theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 27/10/2023, chị Bùi Thị M1 có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Đề nghị Tòa án xem xét giải quyết lại vụ án. về quan hệ hôn nhân chị M1 nhận thấy anh M vẫn còn yêu thương và quan tâm vợ con, không đồng ý ly hôn với anh M. Mong muốn vợ chồng được đoàn tụ để con cái có đủ tình cảm của bố mẹ, Tòa án sơ thẩm giải quyết ly hôn cho chị và anh M sẽ làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến các con của chị. Quá trình giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm chị nhận thấy Thẩm phán giải quyết vụ án không khách quan, việc ly hôn chỉ nhằm cho anh M đạt được yêu cầu mà không hòa giải cho vợ chồng đoàn tụ. Ngày Tòa án P xét xử vụ án chị đang phải nằm viện chị có thông tin đến Tòa án nhưng Tòa án vẫn giải quyết vắng mặt chị là chưa phù hợp với quy định. Trường hợp Tòa án giải quyết vụ án cho ly hôn và cho chị nuôi cả hai con, về cấp dưỡng đối với cháu Lê Hoàng Phương T là 1.500.000đ/tháng là không thể đủ, chị đề nghị tăng mức cấp dưỡng đối với cháu T.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn chị Bùi Thị M1 giữ nguyên nội dung đã kháng cáo và cung cấp cho Hội đồng xét xử phiếu kết quả siêu âm thai nhi ngày 28/01/2024 và đề nghị Tòa giải quyết không đồng ý ly hôn với anh M để mong muốn con cái có gia đình đủ cha mẹ chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về tài sản chung chị M1 không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát phát biểu sự tuân theo pháp luật của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308, 309 của Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 41/2023/HNGĐ-ST ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Phú Lương theo hướng bác yêu cầu xin ly hôn của anh M đối với chị M1. Chị M1 không phải chịu án phí phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa; sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên; Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của chị M1 làm trong hạn luật định, đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm do đó kháng cáo của chị M1 là hợp lệ và được thụ lý và đưa ra xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Về tố tụng của cấp sơ thẩm: Chị M1 có kháng cáo việc Tòa án nhân dân huyện Phú Lương xét xử vắng mặt chị là không đúng quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy, quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm Tòa án cấp sơ thẩm đã tống đạt cho chị M1 quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm, phiên tòa lần đầu ngày 30/8/2023 chị M1 vắng mặt không có lý do, phiên tòa lần thứ hai ngày 19/9/2023 chị M1 tiếp tục vắng mặt không có đơn xin hoãn phiên tòa, chị M1 chỉ gửi cho Tòa án Phú Lương đơn xin xác nhận chị đang nằm điều trại tại khoa truyền nhiễm của bệnh viện A. Tòa án P đã tiếp tục hoãn phiên tòa và tống đạt hợp lệ cho chị M1. Phiên tòa ngày 28/9/2023 chị M1 tiếp tục vắng mặt không có lý do. Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án sơ thẩm xét xử vắng mặt bị đơn chị Bùi Thị M1 là có căn cứ, đúng quy định.

[2]. Về giải quyết nội dung vụ án:

[2.1]. Xét kháng cáo của chị M1 về việc không đồng ý ly hôn với anh M. Hội đồng xét xử thấy rằng: Chị Bùi Thị M1 và anh Lê Văn M có kết hôn năm 2016, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện P được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn anh M cho rằng, giữa anh và chị M1 luôn bất đồng quan điểm sống, hiện anh M xác định không còn tình cảm với chị M1. Quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm, anh M xác định đến nay không còn tình cảm vợ chồng, yêu thương chị M1 và không thể tiếp tục chung sống cùng chị M1.

Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm chị M1 đã cung cấp cho Hội đồng xét xử hai kết quả siêu âm thai nhi vào các ngày 30/10/2023 và 28/01/2024 xác định chị M1 có thai tới thời điểm 28/01/2024 được 20 tuần 01 ngày. Như vậy, chị M1 đã có thai trước thời điểm đưa vụ án ra xét xét phúc thẩm vào ngày 04 tháng 12 năm 2023. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 3 Điều 51 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định: “...3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.”. Như vậy, xét nội dung kháng cáo và căn cứ vào những chứng cứ mới phát sinh tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử thấy kháng cáo của chị M1 là có căn cứ, cần chấp nhận và sửa án sơ thẩm theo hướng bác yêu cầu xin ly hôn của anh Lê Văn M để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người người phụ nữ khi mang thai theo nguyên tắc quy định tại khoản 4 điều 2 của Luật hôn nhân và gia đình.

[2.2]. Tại phiên tòa, anh Lê Văn M cho rằng, việc chị M1 cung cấp các kết quả siêu âm có thai là không phải con của anh, vì thời điểm mang thai anh đang đi học, anh đề nghị xem xét tính hợp pháp của các kết quả siêu âm và đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với chị M1. Về nội dung này, trên cơ sở phân tích nêu trên Hội đồng xét xử thấy không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu của anh M.

[3]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm, không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4]. Về án phí ly hôn sơ thẩm và phúc thẩm: - Anh M phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm. Do cấp phúc thẩm bác yêu cầu xin ly hôn của anh M, do đó anh M không phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con.

- Xét kháng cáo của chị M1 được chấp nhận. Do đó, chị M1 không phải chịu án phí ly hôn phúc thẩm.

[5]. Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tại phiên tòa là có căn cứ;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ, áp dụng pháp luật của cấp phúc thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 308; Điều 309; Điều 147, Điều 148 của Bộ Luật tố tụng dân sự;

Chấp nhận đơn kháng cáo của chị Bùi Thị M1. Sửa bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 41/2023/HNGĐ-ST ngày 28 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên theo hướng bác yêu cầu xin ly hôn của anh Lê Văn M.

2. Tuyên xử:

2.1. Về quan hệ hôn nhân: Bác yêu cầu xin ly hôn của anh Lê Văn M đối với chị Bùi Thị M1.

2.2. Án phí ly hôn sơ thẩm và phúc thẩm: - Anh Lê Văn M phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nộp sung quỹ nhà nước, được trừ đi số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003640 ngày 22/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Anh Lê Văn M không phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con.

- Chị Bùi Thị M1 không phải chịu án phí ly hôn phúc thẩm. Hoàn trả lại cho chị Bùi Thị M1 số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí phúc thẩm số 0004405 ngày 06/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.

3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

135
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp hôn nhân và gia đình số 04/2024/HNGĐ-PT

Số hiệu:04/2024/HNGĐ-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thái Nguyên
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:29/01/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về