TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN
BẢN ÁN 03/2025/HNGĐ-ST NGÀY 17/01/2025 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
Ngày 17 tháng 01 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 170/2024/TLST- HNGĐ, ngày 05 tháng 12 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2025/QĐXXST- HNGĐ, ngày 02/01/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lô Thị Th, sinh năm 199z. Địa chỉ: Bản Tân N, xã Ngọc L, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
Bị đơn: Anh Vi Văn Ó, sinh năm 198y. Hộ khẩu thường trú: Bản Tân N, xã Ngọc L, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Hiện đang cai nghiện ma tuý tại Cơ sơ cai nghiện ma tuý tự nguyện tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (Có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đơn đề nghị xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Lô Thị T trình bày như sau:
- Về hôn nhân: Chị Lô Thị Th kết hôn với anh Vi Văn Ó vào ngày 02 tháng 7 năm 2019 trên cơ sở tự nguyện, có được tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Ngọc L, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc thời gian đầu, thời gian về sau phát sinh mâu Tẫn.
Nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn là do chồng không quan tâm tới vợ con, không tu chí làm ăn, nghiện ngập. Bản thân chị Th đã khuyên nhủ, cho cơ hội sửa chữa nhiều lần nhưng anh Vi Văn Ó vẫn không thay đổi, mâu Tẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn. Đến khoảng tháng 1 năm 2022 thì anh Vi Văn Ó có đánh đập chị Th nên chị đã bỏ về bên nhà ngoại sinh sống, kể từ đó vợ chồng sống ly thân, cắt đứt mọi mối quan hệ. Sau khi vợ chồng sống ly thân thì anh Vi Văn Ó tiếp tục nghiện ngập và hiện nay đang phải đi cai nghiện ma tuý. Nay chị Lô Thị Th nhận thấy tình cảm vợ chồng là không còn nữa, nguyện vọng xin được ly hôn anh Vi Văn Ó.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 người con chung là cháu Vi Dương Kh, sinh ngày 01/8/201z và cháu Vi Hải B, sinh ngày 19/8/202a. Hiện hai con đang ở với chị Lô Thị Th, trường hợp vợ chồng ly hôn thì chị Th có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung và không yêu cầu anh Vi Văn Ó cấp dưỡng nuôi con.
- Về chia tài sản chung và nợ: Chị Lô Thị Th không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Ý kiến của bị đơn anh Vi Văn Ó: Anh Ó đã nhận được Thông báo thụ lý vụ án, các văn bản tố tụng của Toà án về việc chị Lô Thị Th xin ly hôn anh, nhưng do hiện nay anh đang đi cai nghiện ma tuý nên không thể tham gia các buổi làm việc tại toà án được. Vì vậy, anh đề nghị Toà án giải quyết, xét xử vắng mặt anh và anh có ý kiến như sau:
- Về hôn nhân: Thời gian và điều kiện kết hôn thì anh Ó nhất trí như chị Lô Thị Th trình bày. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến khoảng đầu năm 2022 thì vợ chồng phát sinh mâu Tẫn. Nguyên nhân vợ chồng mâu Tẫn là do anh Ó có sử dụng ma tuý nên dẫn đến nghiện ngập và hiện nay anh đang phải đi cai nghiện ma tuý. Anh Vi Văn Ó xét thấy tình cảm vợ chồng đang còn, mong muốn vợ chồng đoàn tụ. Trường hợp chị Lô Thị Th kiên quyết xin ly hôn thì anh cũng đồng ý.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 người con chung là cháu Vi Dương Kh, sinh ngày 01/8/201z và cháu Vi Hải B, sinh ngày 19/8/202a. Trường hợp vợ chồng ly hôn thì anh Vi Văn Ó có nguyện vọng giao cả hai con chung cho chị Lô Thị Th trực tiếp nuôi dưỡng và anh Ó xin tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Anh Vi Văn Ó không yêu cầu toà án giải quyết.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức T, miễn, giảm, T, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử.
Về hôn nhân: Cho chị Lô Thị Th được ly hôn anh Vi Văn O.
Về nuôi con chung: Giao cháu Vi Dương Kh, sinh ngày 01/8/201z và cháu Vi Hải B, sinh ngày 19/8/202a cho chị Lô Thị Th trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh Vi Văn Ó.
Về chia tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.
Về án phí: Chị Lô Thị Th phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về tố tụng: Mặc dù tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn vắng mặt; bị đơn vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Lô Thị Th và anh Vi Văn Ó là hợp pháp, được xác lập trên cở sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Ngọc L, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc, đến đầu năm 2022 thì vợ chồng phát sinh mâu Tẫn. Nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn là do anh Vi Văn Ó nghiện ngập, không quan tâm tới vợ con. Chị Lô Thị Th kiên quyết xin ly hôn thì anh Vi Văn Ó cũng đồng ý.
Hội đồng xét xử xét thấy về quan hệ hôn nhân giữa chị Lô Thị Th và anh Vi Văn Ó chỉ tồn tại về mặt hình thức, thực chất quan hệ hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lô Thị Th, xử cho chị được ly hôn với anh Vi Văn Ó là đúng với quy định của pháp luật.
[3] Về nuôi con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Vi Dương Kh, sinh ngày 01/8/201z và cháu Vi Hải B, sinh ngày 19/8/202a. Trường hợp vợ chồng ly hôn chị Th và anh Ó đều có nguyện vọng giao cả hai con chung cho chị Lô Thị Th chăm sóc, nuôi dưỡng và tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh Vi Văn Ó. Hội đồng xét xử xét thấy cháu Vi Dương Kh và cháu Vi Hải B hiện nay đang ở với chị Lô Thị Th, còn anh Vi Văn Ó thì đang đi cai nghiện ma tuý. Để đảm bảo tâm sinh lý cũng như sự phát triển của các con, vì vậy cần giao cháu Vi Dương Kh và cháu Vi Hải B cho chị Lô Thị Th trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng của hai vợ chồng và đúng với quy định tại các Điều 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình.
[4] Về chia tài sản chung và nợ chung: Chị Lô Thị Th và anh Vi Văn Ó không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Chị Lô Thị Th phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[6] Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Xét thấy ý kiến phát biểu tại phiên tòa của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán; Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa; những người tham gia tố tụng và việc đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng pháp luật để giải quyết nội dung vụ án là có căn cứ, đúng pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức T, miễn, giảm, T, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:
Về hôn nhân: Cho chị Lô Thị Th được ly hôn anh Vi Văn Ó.
Về nuôi con chung: Giao con chung là cháu Vi Dương Kh, sinh ngày 01/8/201z và cháu Vi Hải B, sinh ngày 19/8/202a cho chị Lô Thị Th trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Vi Văn Ó.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người yêu cầu thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa Tận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.
Về án phí: Chị Lô Thị Th phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) theo biên lai số 0011932, ngày 05/12/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, Bị đơn có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc 15 ngày bản án được niêm yết công khai.
Bản án về tranh chấp hôn nhân và gia đình số 03/2025/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 03/2025/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Thanh Chương - Nghệ An |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 17/01/2025 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về