TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẤC NINH
BẢN ÁN 02/2024/HNGĐ-ST NGÀY 13/12/2024 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
Ngày 13/12/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh; xét xử sơ thẩm công khai vụ thụ lý số: 34/2024/TLST- HNGĐ ngày 04 tháng 11 năm 2024, về việc ''Tranh chấp về hôn nhân và gia đình'', theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27/11/2024 giữa:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1982 (Có mặt);
HKTT: Thôn BT, xã ĐT, thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
Bị đơn: Anh Nguyễn Thế L, sinh năm 1978 (Có mặt);
HKTT: Thôn TC, xã Tân Chi, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại các lời khai có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ng trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị kết hôn với chồng là anh Nguyễn Thế L, sinh năm 1978; HKTT: Thôn TC, xã Tân Chi, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Trước khi cưới hai bên có được tự nguyện tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 29/11/2010 tại UBND xã Tân Chi, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Sau ngày cưới vợ chồng chung sống tại gia đình nhà anh L.
Trong quá trình chung sống vợ chồng chung sống hoà thuận, đến giữa năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân vợ chồng bất đồng quan điểm không hợp nhau, vợ chồng không có tiếng nói chung, anh L không tôn trọng, nghi ngờ chị có mối quan hệ với người khác, thậm chí còn đánh đập chị. Vợ chồng ly thân từ tháng 9 năm 2024, chị về nhà bố mẹ đẻ sinh sống tại: Thôn BT, xã ĐT, thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Mâu thuẫn hai bên gia đình có biết, có khuyên cho vợ chồng về với nhau nhưng không được. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh L.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Thế B, sinh ngày 09/2/2012 và cháu Nguyễn Thế Huy B1, sinh ngày 20/4/2015. Khi ly hôn chị đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu B, giao cho anh L được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu B1. Về cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tại phiên toà, anh L trình bày anh xin nuôi cả 2 con chung, trường hợp không được anh xin giữ nuôi cháu B do là cháu đích tôn của gia đình nên chị đã thay đổi, chị xin nuôi cháu B1 và đồng ý cho anh L nuôi cháu B.
Về thu nhập: Hiện nay chị đang nhân viên kiểm tra chất lượng tại Công ty TNHH một thành viên Vina Paper thu nhập 16.700.000 đồng/tháng.
Về chỗ ở: Hiện nay chị sinh sống cùng bố mẹ tại Thôn BT, xã ĐT, thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
Về tài sản chung: Vợ chồng có 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA LEAD có BKS: 99C1-xxxxx. Quá trình làm việc tại Toà án chị xin được rút yêu cầu chia tài sản chung là chiếc xe mô tô trên. Tại phiên toà chị xin giữ nguyên ý kiến trên. Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về sao kê tài khoản ngân hàng anh L cung cấp cho Tòa án là đúng tuy nhiên chị đã sử dụng số tiền để lo chi phí sinh hoạt của cả gia đình hết. Nay chị không có ý kiến, yêu cầu gì đối với số tiền anh L đã chuyển cho chị.
Về công nợ, công sức: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra chị không có ý kiến hay yêu cầu gì khác.
*Tại các lời khai có trong hồ sơ vụ án bị đơn anh Nguyễn Thế L trình bày. Về quan hệ hôn nhân: Anh kết hôn với chồng là Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1982; HKTT: Thôn BT, xã ĐT, thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
Trước khi cưới hai bên có được tự nguyện tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 29/11/2010 tại UBND xã Tân Chi, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Sau ngày cưới vợ chồng chung sống tại gia đình nhà anh.
Trong quá trình chung sống vợ chồng chung sống hoà thuận, đến tháng 11 năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân vợ chồng bất đồng quan điểm không hợp nhau, mâu thuẫn trong việc chị Ng quản lý về kinh tế gia đình. Tháng 9 năm 2024 chị Ng bỏ đi khỏi nhà và vợ chồng ly thân từ đó đến nay. Mâu thuẫn hai bên gia đình có biết. Quá trình làm việc tại Toà án, anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, chị Ng làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn anh không đồng ý. Tuy nhiên tại phiên toà, chị Ng kiên quyết xin ly hôn anh đồng ý.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Thế B, sinh ngày 09/2/2012 và cháu Nguyễn Thế Huy B1, sinh ngày 20/4/2015. Khi ly hôn anh đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai con chung. Về cấp dưỡng nuôi con anh quá trình làm việc tại Tòa án yêu cầu chị Ng phải cấp dưỡng 2.000.000 đồng/01 con/01 tháng. Tuy nhiên tại phiên toà anh không yêu cầu chị Ng phải cấp dưỡng. Trong trường hợp anh không được nuôi cả 2 con chung anh xin giữ nuôi cháu B vì là cháu đích tôn của gia đình. Trong phần tranh luận anh kiên quyết xin nuôi 2 con chung, không yêu cầu chị Ng cấp dưỡng nuôi con.
Về thu nhập: Hiện nay anh đang nhân viên tại Công ty TNHH Hana Vina Việt Nam thu nhập 12.000.000 đồng/tháng. Anh làm hành chính và Về chỗ ở: Hiện nay anh sinh sống cùng bố mẹ tại Thôn TC, xã Tân Chi, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.
Về tài sản chung: Nay chị Ng đã rút yêu cầu chia tài sản đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA LEAD có BKS: 99C1-xxxxx anh không có ý kiến, yêu cầu gì. Đối với số tiền anh chuyển cho chị Ng, anh đã nộp sao kê tài khoản ngân hàng cho Tòa án tuy nhiên anh không có ý kiến, yêu cầu gì đối với số tiền này. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về công nợ: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra anh không có ý kiến hay yêu cầu gì khác.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du phát biểu ý kiến đã đánh giá việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, là đúng pháp luật; bị đơn chưa chấp hành đúng pháp luật. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 217 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án. Đề nghị Toà án:
Về quan hệ hôn nhân: Công nhận việc thuận tình ly hôn của chị Nguyễn Thị Ng và anh Nguyễn Thế L.
Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thế Huy B1, sinh ngày 20/4/2015 cho chị Ng trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu Nguyễn Thế B, sinh ngày 09/2/2012 cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng; vấn đề cấp dưỡng nuôi con các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ, trích chia công sức: Đình chỉ yêu cầu được sở hữu xe mô tô HONDA LEAD có BKS: 99C1-xxxxx có giá 12.000.000 đồng của chị chị Nguyễn Thị Ng.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ng phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ và các chứng cứ được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị Ng có đơn xin ly hôn, theo đúng mẫu và nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định.
Bị đơn anh Nguyễn Thế L có HKTT: Thôn TC, xã Tân Chi, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, vì vậy Tòa án nhân dân huyện Tiên Du thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền.
[2]. Về nội dung vụ án: Chị Nguyễn Thị Ng và anh Nguyễn Thế L kết hôn vào ngày 29/11/2010 trên cơ sở được tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Tân Chi, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Khi kết hôn anh chị đủ điều kiện và tuân thủ đúng quy định pháp luật. Như vậy quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Ng và anh Nguyễn Thế L là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Quá trình chung sống, chị Ng cho rằng vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ giữa năm 2023, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm không hợp nhau, vợ chồng không có tiếng nói chung, anh L nghi ngờ chị, thậm chí còn đánh đập chị. Anh L cho rằng vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ tháng 11 năm 2023 nguyên nhân vợ chồng bất đồng quan điểm không hợp nhau, mâu thuẫn về quản lý kinh tế gia đình. Vợ chồng ly thân từ tháng 9 năm 2024.
Tại phiên toà, chị Ng xác nhận đến nay không còn tình cảm với anh L kiên quyết đề nghị Toà án giải quyết cho được ly hôn, anh L đồng ý.
Hội đồng xét xử xét thấy giữa chị Ng và anh L xảy ra tình trạng mâu thuẫn là có thật, vợ chồng sống không có tiếng nói chung, việc ai người đó làm, mỗi người sống một nơi, đã ly thân nhau không có biện pháp gì hàn gắn tình cảm.
Như vậy hôn nhân giữa anh chị trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, hôn nhân chỉ tồn tại trên hình thức. Chị Nguyễn Thị Ng làm đơn xin ly hôn anh Nguyễn Thế L là hoàn toàn tự nguyện, có căn cứ phù hợp với Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Ng, xử cho chị Nguyễn Thị Ng được ly hôn với anh Nguyễn Thế L.
[3]. Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Thế B, sinh ngày 09/2/2012 và cháu Nguyễn Thế Huy B1, sinh ngày 20/4/2015. Hiện nay, cháu B và cháu B1 đang ở cùng anh L và ông bà nội tại: Thôn TC, xã Tân Chi, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Trường hợp ly hôn chị Ng đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu B1 còn anh L được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu B; Về cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên anh L đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai con chung; Về cấp dưỡng nuôi con anh yêu cầu chị Ng phải cấp dưỡng 2.000.000 đồng/01 con/01 tháng. Tại phiên toà anh không yêu cầu chị cấp dưỡng nuôi con chung. Trong trường hợp không được nuôi 2 con chung anh xin giữ nuôi cháu B do là cháu đích tôn của gia đình.
HĐXX xét thấy việc giao con chung cho ai cần đảm B1 cho các cháu có được điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng, học tập tốt nhất và ổn định nhất. Trường hợp ly hôn, anh L đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai con chung, chị Ng xin được nuôi 01 con chung. HĐXX xét thấy về điều kiện nuôi con chung của chị Ng và anh L là đều đảm B1, chị Ng có nguyện vọng được nuôi 01 con chung là chính đáng, hợp tình, phù hợp quy định pháp luật nên HĐXX quyết định giao cháu Nguyễn Thế Huy B1 cho chị Ng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; giao cháu Nguyễn Thế B cho anh L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Không ai yêu cầu nên HĐXX không xem xét.
[4]. Về tài sản chung, công nợ, trích chia công sức: Vợ chồng có 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA LEAD có BKS: 99C1-xxxxx tại đơn khởi kiện chị Ng đề nghị được sử dụng chiếc xe tuy nhiên tại các buổi làm việc tại Tòa án chị Ng đã xin rút yêu cầu chia tài sản trên, anh L không có ý kiến, yêu cầu gì về việc chị Ng rút yêu cầu chia tài sản. Tại phiên toà các đương sự giữ nguyên ý kiến trên nên HĐXX quyết định đình chỉ yêu cầu chia tài sản chung của chị Ng.
[6]. Công nợ, trích chia công sức: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
[5]. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ng phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định. Trả lại cho chị Nguyễn Thị Ng tiền tạm án phí chia tài sản theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều 51, 53, 56, 58, 81, 82, 83, Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 217, 235, 244, 262, 264, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án;
Tuyên xử:
1. Đình chỉ yêu cầu chia tài sản chung của chị Nguyễn Thị Ng về việc: Yêu cầu được sử dụng xe mô tô nhãn hiệu HONDA LEAD có BKS: 99C1-xxxxx.
2. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Ng. Chị Nguyễn Thị Ng được ly hôn với anh Nguyễn Thế L.
thẩm; Trả lại cho chị Nguyễn Thị Ng số tiền tạm ứng án phí DSST (chia tài sản chung) 300.000 đồng. Xác nhận chị Nguyễn Thị Ng đã nộp 600.000 đồng tạm ứng án phí tại biên lai ký hiệu BLTU/23; số 0001627 ngày 04/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Du.
6. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Bản án về tranh chấp hôn nhân và gia đình số 02/2024/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 02/2024/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Tiên Du - Bắc Ninh |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 13/12/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về