Bản án về tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn số 153/2024/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

BẢN ÁN 153/2024/HNGĐ-ST NGÀY 26/09/2024 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH LY HÔN

Trong các ngày 06, 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 263/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 132/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 111/2024/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đinh Thị Huỳnh M, sinh năm 1968. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

- Bị đơn: Anh Lê Văn T, sinh năm 1966.

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Chị Đinh Thị Huỳnh M vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin vắng mặt; anh Lê Văn T vắng mặt tại phiên tòa, không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 09/11/2023, bản tự khai và biên bản phiên họp – hòa giải, nguyên đơn chị Đinh Thị Huỳnh M trình bày:

Về hôn nhân: Chị Đinh Thị Huỳnh M và anh Lê Văn T tự nguyện xác lập quan hệ vợ chồng sau thời gian tìm hiểu, quen biết từ năm 2005, tổ chức đám cưới vào năm 2007 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp vào ngày 25/01/2007. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên, đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn do anh T thường xuyên uống rượu (anh T là giáo viên, nhưng hàng ngày đều đi uống rượu vì có nhiều mối quan hệ công việc, xã hội bên ngoài). Khi về nhà, anh T thường chửi mắng chị M vô cớ, có một lần đánh chị M và đập phá đồ đạc trong nhà. Chị M đã nhiều lần khuyên bảo nhưng anh T không thay đổi, vẫn tiếp tục uống rượu rồi về nhà gây sự, chửi mắng chị M. Vì vậy, chị M thường xuyên qua lại nhà cha mẹ ruột ở thành phố C sinh sống, chỉ thỉnh thoảng mới trở về nhà anh T. Vài năm gần đây, mỗi năm chị M chỉ ghé nhà anh T khoảng 07-08 lần để dọn dẹp nhà cửa. Khi chị M về thì anh T không thể hiện thiện chí hàn gắn tình cảm. Nay cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị M xác định không còn tình cảm và không muốn hàn gắn với anh T nên yêu cầu được ly hôn với anh Lê Văn T.

Về con chung: Chị Đinh Thị Huỳnh M và anh Lê Văn T không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Lê Văn T: Anh T vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, gồm: thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải (02 lần), thông báo về việc yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa. Tuy nhiên, anh T đều vắng mặt không có lý do, không cung cấp văn bản ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị M, cũng không tham gia các phiên họp – hòa giải và phiên tòa. Do đó, Tòa án không thu thập được lời khai, ý kiến của anh T đối với yêu cầu khởi kiện của chị M.

Tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án gồm:

- Giấy căn cước công dân của chị Đinh Thị Huỳnh M (bản photo, đã đối chiếu bản chính);

- Giấy chứng nhận kết hôn (bản chính);

- Bản tự khai ngày 16/8/2024 của chị Đinh Thị Huỳnh M (bản chính);

- Đơn xin giải quyết vắng mặt ngày 16/8/2024 của chị Đinh Thị Huỳnh M (bản chính).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Theo yêu cầu khởi kiện của chị Đinh Thị Huỳnh M và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật đang tranh chấp là “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình (ly hôn)” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2] Bị đơn anh Lê Văn T cư trú tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.3] Nguyên đơn chị Đinh Thị Huỳnh M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn anh Lê Văn T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không cung cấp ý kiến để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không rõ lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị M và anh T theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về hôn nhân: Chị Đinh Thị Huỳnh M yêu cầu ly hôn với anh Lê Văn T; anh Lê Văn T không có văn bản trình bày ý kiến về quan hệ hôn nhân với chị M.

Xét thấy, chị M và anh T chung sống với nhau từ năm 2007, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp vào ngày 25/01/2007, đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận. Trong quá trình chung sống, giữa chị M và anh T phát sinh mâu thuẫn, không tự giải quyết được. Chị M xác định từ năm 2017 anh T thường xuyên đi uống rượu, khi về nhà thì chửi mắng chị M không có lý do, có hành vi đánh đập chị M và đập phá đồ đạc trong nhà. Mặc dù chị M đã nhiều lần khuyên bảo nhưng anh T không thay đổi, nên chị M thường xuyên về nhà cha mẹ ruột ở thành phố C, tỉnh Đồng Tháp sinh sống, ít khi trở về nhà anh T. Vài năm gần đây, chị M chỉ ghé nhà anh T khoảng 07-08 lần/năm để dọn dẹp nhà cửa.

Khoản 1 Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”.

Hiện nay, chị M xác định không muốn hàn gắn, đoàn tụ với anh T, không còn tình cảm với anh T. Anh T đã được Tòa án thông báo về phiên họp hòa giải 02 lần để tạo điều kiện cho anh, chị hòa giải đoàn tụ, nhưng anh T không đến. Điều này cho thấy anh T không có thiện chí hàn gắn, đoàn tụ với chị M. Như vậy, có cơ sở xác định hôn nhân giữa chị M và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.

Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”.

 [2.1] Do đó, yêu cầu của chị Đinh Thị Huỳnh M về việc ly hôn với anh Lê Văn T là phù hợp quy định tại các Điều 51, 53 và 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, nên được chấp nhận.

[2.2] Về con chung: Chị M xác định trong thời gian chung sống, chị M và anh T không có con chung, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Chị M không yêu cầu Tòa án giải quyết và anh T cũng không có ý kiến hay yêu cầu gì về tài sản chung và nợ chung, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Đinh Thị Huỳnh M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; anh Lê Văn T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm a khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Điều 51, Điều 53, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đinh Thị Huỳnh M.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị Huỳnh M được ly hôn với anh Lê Văn T.

2. Về con chung: Chị Đinh Thị Huỳnh M và anh Lê Văn T không có con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Đinh Thị Huỳnh M và anh Lê Văn T không có yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm:

* Chị Đinh Thị Huỳnh M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006712 ngày 01/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình. Như vậy, chị M đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.

* Anh Lê Văn T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

6. Về thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7, 7a, 9 và 9a Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

92
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn số 153/2024/HNGĐ-ST

Số hiệu:153/2024/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thanh Bình - Đồng Tháp
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:26/09/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về