TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
BẢN ÁN 154/2024/HNGĐ-ST NGÀY 26/09/2024 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH LY HÔN, NUÔI CON
Trong các ngày 06, 26 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 267/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 131/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 112/2024/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Tú N, sinh năm 1987. Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
- Bị đơn: Anh Đào Văn Phương E, sinh năm 1988. Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Chị Nguyễn Thị Tú N có mặt tại phiên tòa, có đơn xin vắng mặt; anh Đào Văn P Em vắng mặt tại phiên tòa, không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Tại đơn khởi kiện ngày 02/6/2024, biên bản lấy lời khai của đương sự, biên bản phiên họp – hòa giải, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tú N trình bày:
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Tú N và anh Đào Văn Phương E tự nguyện tìm hiểu khoảng 01 năm, sau đó tự nguyện sống chung với nhau vào năm 2009, không có tổ chức đám cưới nhưng có đăng ký kết hôn vào ngày 11/8/2015 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Sau khi sống chung thì chị N và anh Phương E sống tại nhà cha mẹ chị N tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Thời gian đầu thì vợ chồng sống chung có hạnh phúc, nhưng đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn; do anh Phương E về nhà cha mẹ anh Phương E ở xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp sinh sống thì không trở lại sống chung với chị N và các con. Chị N và anh Phương E sống ly thân từ năm 2019 đến nay mà không hàn gắn được. Nay chị N không còn tình cảm và không muốn hàn gắn với anh Phương E, nên chị N yêu cầu ly hôn với anh Phương E.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị Tú N yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi con chung tên Đào Duy B, sinh ngày 10/9/2010, Đào Nguyễn Gia H, sinh ngày 24/6/2013, Đào Nguyên Bảo T, sinh ngày 23/6/2016 và không yêu cầu anh Phương E cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn anh Đào Văn Phương E: Anh Phương E vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, không có lý do. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Phương E đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ hòa hòa giải 02 lần, thông báo về việc yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa, nhưng anh Phương E vắng mặt không có lý do, không cung cấp văn bản ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị N, cũng không tham dự phiên họp – hòa giải 02 lần và phiên tòa 02 lần nên Tòa án không thu thập được lời khai, ý kiến của anh Phương E đối với yêu cầu khởi kiện của chị N.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Tú N. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Tú N được ly hôn với anh Đào Văn Phương E. Về con chung: Giao con chung tên Đào Duy B, sinh ngày 10/9/2010, Đào Nguyễn Gia H, sinh ngày 24/6/2013, Đào Nguyên Bảo T, sinh ngày 23/6/2016 cho chị N được quyền trực tiếp nuôi. Anh Phương E không phải cấp dưỡng cho con do chị N không có yêu cầu anh Phương E cấp dưỡng cho con. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết do không có yêu cầu.
Tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án gồm:
- Giấy chứng nhận kết hôn Bản chính ;
- Trích lục khai sinh con chung Bản sao ;
- Bản tự khai ngày 29/7/2024 của con chung Đào Duy B, Đào Nguyễn Gia H, Đào Nguyễn Bảo T1 Bản chính ;
- Biên bản lấy lời khai chị Nguyễn Thị Tú N ngày 29/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình Bản chính);
- Đơn xin giải quyết vắng mặt ngày 16/8/2024 của chị Nguyễn Thị Tú N Bản chính ;
- Kết quả xác minh ngày 21/8/2024 của Công an xã B v/v xác minh nơi cư trú anh Đào Văn Phương E Bản chính .
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Theo yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Tú N và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật đang tranh chấp là “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Bị đơn anh Đào Văn P Em cư trú tại ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[1.3] Chị Nguyễn Thị Tú N được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt; anh Đào Văn Phương E đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không có cung cấp ý kiến để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn; đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không rõ lý do; do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị N, anh Phương E theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.4] Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có tiến hành thu thập chứng cứ, nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Tú N yêu cầu ly hôn với anh Đào Văn Phương E; anh Đào Văn Phương E không có văn bản trình bày ý kiến về hôn nhân với chị N.
Hôn nhân giữa anh Phương E và chị N được xây dựng trên cơ sở tự nguyện, không bị cưỡng ép hoặc lừa dối; anh chị có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Chị N xác định trong quá trình chung sống đến năm 2019 thì anh chị bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh Phương E về nhà cha mẹ của anh Phương E tại xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp thì không trở lại sống chung với chị N và các con tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, nên vợ chồng sống ly thân từ năm 2019 đến nay mà không hàn gắn, đoàn tụ tình cảm với nhau được.
Khoản 1 Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”.
Từ trình bày của chị N, có cơ sở xác định chị N và anh Phương E đã không thực hiện nghĩa vụ của vợ chồng trong thời gian dài từ năm 2019 đến nay. Như vậy, hôn nhân giữa chị N và anh Phương E đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.
Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”.
Do đó, chị Nguyễn Thị Tú N yêu cầu ly hôn với anh Đào Văn Phương E là phù hợp theo quy định tại Điều 51, Điều 53 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nên được chấp nhận.
[2.2] Về con chung:
Chị N xác định chị N và anh Phương E có ba con chung tên Đào Duy B, sinh ngày 10/9/2010, Đào Nguyễn Gia H, sinh ngày 24/6/2013, Đào Nguyên Bảo T, sinh ngày 23/6/2016. Chị Nguyễn Thị Tú N yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi cháu B, cháu H, cháu T và không yêu cầu anh Phương E cấp dưỡng nuôi con. Anh Phương E không cung cấp cho Tòa án ý kiến, yêu cầu đối với con chung.
Xét thấy, chị N đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu B, cháu H, cháu T từ năm 2019 đến nay, chị N đã làm tròn nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu và chị N xác định chị N có đủ điều kiện để nuôi con. Mặt khác, cháu B, cháu H, cháu T đã trên 07 tuổi, có văn bản ghi nguyện vọng muốn được tiếp tục sống chung với chị N.
Khoản 1, 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
“1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.
2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.” Do đó, căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của cháu B, cháu H, cháu T như đã phân tích, đồng thời xem xét nguyện vọng của cháu B, cháu H, cháu T, xét thấy không cần thiết làm thay đổi hoàn cảnh sống ổn định của các cháu, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu trực tiếp nuôi cháu B, cháu H, cháu T của chị N, là phù hợp theo quy định của pháp luật; anh Phương E không phải cấp dưỡng cho cháu B, cháu H, cháu T do chị N không có yêu cầu anh Phương E cấp dưỡng cho con.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Tú N không yêu cầu Tòa án giải quyết; anh Đào Văn Phương E không có ý kiến, yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[3] Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử do đó được chấp nhận.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Tú N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; anh Đào Văn Phương E không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Tú N.
1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Tú N được ly hôn với anh Đào Văn Phương E.
2. Về con chung: Giao con chung tên Đào Duy B, sinh ngày 10/9/2010, Đào Nguyễn Gia H, sinh ngày 24/6/2013, Đào Nguyên Bảo T, sinh ngày 23/6/2016 cho chị Nguyễn Thị Tú N được quyền trực tiếp nuôi. Anh Đào Văn Phương E không phải cấp dưỡng cho cháu B, cháu H, cháu T do chị Nguyễn Thị Tú N không có yêu cầu anh Đào Văn Phương E cấp dưỡng cho con.
Sau khi ly hôn, anh Đào Văn Phương E không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Anh Đào Văn Phương E không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị Nguyễn Thị Tú N có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm con của anh Đào Văn Phương E.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Tú N và anh Đào Văn Phương E không có yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Chị Nguyễn Thị Tú N phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng Ba trăm nghìn đồng , nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng Ba trăm nghìn đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0006718 ngày 04/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình. Như vậy, chị N đã nộp xong tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Anh Đào Văn Phương E không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án về tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con số 154/2024/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 154/2024/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Thanh Bình - Đồng Tháp |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 26/09/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về