Bản án về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con khi ly hôn số 102/2022/HNGĐ-ST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 102/2022/HNGĐ-ST NGÀY 04/08/2022 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH, LY HÔN, NUÔI CON KHI LY HÔN

Ngày 04 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 309/2022/TLST-HNGĐ ngày 20/5/2022, về việc: “Tranh chấp về Hôn nhân gia đình- Xin ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 191/2022/QĐXX-ST ngày 01 tháng 7 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 149/2022/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lại Thị T, sinh năm 1988; (Có mặt)

Địa chỉ:  Ấp T, xã B, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

- Bị đơn: Anh Trần Duy C, sinh năm 1988; (Vắng mặt)

Địa chỉ:  Ấp T, xã B, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn chị Lại Thị T trình bày:

Chị T và anh C sống chung với nhau khoảng năm 2013, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng sau đó kinh tế khó khăn, mâu thuẫn trầm trọng, thường xuyên cãi nhau và hay đánh dâp chị, tính tình không còn phù hợp, không còn tình cảm với nhau, chị T và anh C không còn sống chung từ năm 2020, không thể hàn gắn và kéo dài, nên chị T yêu cầu được ly hôn với anh C.

Về quan hệ con chung: Có 02 người con chung Trần Tứ D, sinh ngày 29/01/2014 và Trần Mỹ N sinh ngày 26/11/2018. Sau khi ly hôn, chị T yêu cầu được nuôi cháu N, đồng ý giao cháu D cho anh C nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng cho nhau.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có.

Anh Trần Duy C trong quá trình giải quyết vụ án đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý và đã được triệu tập hợp lệ đến Tòa án để làm việc nhưng anh C vẫn vắng mặt không lý do chính đáng nên không ghi được ý kiến của anh C và không tiến hành hòa giải được.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Việc Tòa án tiến hành thụ lý giải quyết là đúng theo trình tự thủ tục và thẩm quyền, trong quá trình tiến hành tố tụng Thẩm phán cũng như Hội đồng xét xử tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, các đương sự trong vụ án cũng thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật, căn cứ hồ sơ vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về hình thức: Chị Lại Thị T có đơn xin ly hôn anh Trần Duy C, có địa chỉ  Ấp T, xã B, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.

Tại phiên tòa hôm nay, anh Trần Duy C đã được Tòa án tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và triệu tập hợp lệ để dự phiên Tòa, nhưng anh Trần Duy C vẫn vắng mặt không lý do, căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn anh C.

[2] Về nội dung: Chị Lại Thị T và anh Trần Duy C sống chung với nhau năm 2013 có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Xét yêu cầu của chị Lại Thị T, Hội đồng xét xử xét thấy vợ chồng chị T và anh C chung sống với nhau hạnh phúc thời gian đầu. Sau đó, kinh tế khó khăn, mâu thuẫn trầm trọng, thường xuyên cãi nhau và hay đánh dâp chị, tính tình không còn phù hợp, không còn tình cảm với nhau, chị T và anh C không còn sống chung từ năm 2020, không thể hàn gắn và kéo dài, nên chị T yêu cầu được ly hôn với anh C. Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết, đã tạo điều kiện cho chị T và anh C hàn gắn nhưng anh C đều không đến, điều này thể hiện tình trạng hôn nhân giữa anh C và chị T mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó có đủ căn cứ để áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lại Thị T.

Về quan hệ con chung: Có 02 người con chung Trần Tứ D, sinh ngày 29/01/2014 và Trần Mỹ N sinh ngày 26/11/2018. Sau khi ly hôn, chị T yêu cầu được nuôi cháu N, đồng ý giao cháu D cho anh C nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng cho nhau.

Xét thấy, từ khi chị T và anh C không còn sống chung thì cháu N do chị T là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng ổn định; cháu D do anh C trực tiếp nuôi dưỡng, cuộc sống đã thích nghi với môi trường sống hiện tại và quyền lợi mọi mặt của cháu được đảm bảo. Do vậy, để tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển bình thường về thể chất và tinh thần của con chấp nhận cho chị T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Trần Mỹ N, anh C trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Trần Tứ D, không ai phải cấp dưỡng cho nhau. Nhưng chị T và anh C phải tạo điều kiện cho cả hai được quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung. Vì lợi ích của con, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hay mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết Về nợ chung: Ghi nhận chị T và anh C xác định không có nợ chung nhưng sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, nếu có nguyên đơn khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của anh, chị trong thời kỳ sống chung thì chị T và anh C vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

[3] Về án phí sơ thẩm: Chị T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

 Áp dụng Điều 8, Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên Xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lại Thị T.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lại Thị T được ly hôn với anh Trần Duy C.

Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 01/2014 ngày 03/01/2014 của Ủy ban nhân dân xã B, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.

Về quan hệ con chung: Giao cháu Trần Mỹ N sinh ngày 26/11/2018 cho chị Lại Thị T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Giao cháu Trần Tứ D sinh ngày 29/01/2014 cho anh C trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục và không ai phải cấp dưỡng cho nhau.

Chị T không trực tiếp nuôi dưỡng con chung Trần Tứ D nhưng chị có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh thực hiện quyền này. Anh C không trực tiếp nuôi dưỡng con chung Trần Mỹ N nhưng anh có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh thực hiện quyền này.

Vì lợi ích của con, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án xem xét và quyết định việc thay đổi trực tiếp nuôi con hay mức cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Ghi nhận chị T và anh C xác định không có nợ chung nhưng sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, nếu có nguyên đơn khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của anh, chị trong thời kỳ sống chung thì chị T và anh C vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

Về án phí: Chị Lại Thị T phải chịu án phí Hôn nhân sơ thẩm 300.000đ nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ theo biên lai số 0009238 ngày 20/5/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn.

Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

52
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con khi ly hôn số 102/2022/HNGĐ-ST

Số hiệu:102/2022/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thoại Sơn - An Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 04/08/2022
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về