Bản án về tranh chấp hôn nhân gia đình số 21/2024/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 21/2024/HNGĐ-ST NGÀY 01/02/2024 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN GIA ĐÌNH

Trong ngày 01 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 343/2023/TLST- HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2023 về tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 301/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Tuyết M, sinh năm 2001; Có mặt. Địa chỉ thường trú: Ấp 2, xã T, TX G, tỉnh Bạc Liêu;

Chỗ ở hiện tại: Đường A, khóm A, phường B, Tp Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

- Bị đơn: Ông Cao Văn D, sinh năm 1998; Vắng mặt.

Địa chỉ cư trú: ấp T, xã T, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau;

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, lời khai của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án và được bổ sung tại phiên tòa thể hiện:

Về hôn nhân: Chị M trình bày, chị và anh D có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu vào ngày 05/7/2022. Qúa trình chung sống vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn cải vã nhau, hiện không còn sống chung, vợ chồng không hạnh phúc nên chị yêu cầu ly hôn với anh D.

Về con chung: Chị M xác định có 01 con chung Cao Phước T, sinh ngày 31/10/2022, hiện cháu T đang ở với anh D và ông bà nội tại ấp T, xã T, huyện Thới Bình. Do anh D đang làm công nhân nên thường xuyên giao cháu T cho ông bà nội chăm nom, không chịu giao cho chị M nuôi dưỡng.

Khi ly hôn chị M yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Cao Phước T (hiện 15 tháng tuổi). Chị M yêu cầu anh D cấp dưỡng 1.500.000đ/tháng cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung: Chị M xác định không có.

Về nợ chung: Chị M xác định không có.

Đối với anh Cao Văn D, Tòa án đã cấp tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh D từ khi thụ lý vụ án cho đến khi mở phiên tòa xét xử, anh D biết được việc yêu cầu ly hôn của chị M, nhưng anh D vẫn vắng mặt không rõ lý do và cũng không gửi ý kiến bằng văn bản cho Tòa án về yêu cầu của chị M.

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại Phiên toà các đương sự không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Xét đơn yêu cầu của chị Nguyễn Thị Tuyết M về việc xin ly hôn với anh Cao Văn D thuộc lĩnh vực hôn nhân và gia đình được quy định tại Điều 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Anh D là bị đơn có địa chỉ nơi cư trú tại ấp T, xã T, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện Thới Bình theo quy định tại Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Tòa án đã cấp tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và giấy triệu tập theo quy định cho các đương sự, nhưng anh D là bị đơn vắng mặt không rõ lý do đến lần thứ 2 nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh D theo quy định tại Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

[3] Về hôn nhân: Chị M và anh D có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu vào ngày 05/7/2022. Chị M cho rằng quá trình chung sống vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn cải vã nhau, hiện không còn sống chung, vợ chồng không hạnh phúc nên chị yêu cầu ly hôn với anh D.

Đối với anh D, biết được yêu cầu xin ly hôn của chị M, nhưng anh D vắng mặt không rõ lý do và cũng không gửi ý kiến bằng văn bản cho Tòa án về yêu cầu của chị M, cho thấy anh D chưa quyết tâm để tìm giải pháp hàn gắn tình cảm của vợ chồng. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo yêu cầu của chị M khi phù hợp với quy định của pháp luật.

Nhận thấy, theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình quy định về ly hôn theo yêu cầu của một bên, cụ thể là yêu cầu của chị M xin ly hôn với anh D. Chị M xác định trong quá trình sống chung vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn cải vã nhau và đã ly thân, vợ chồng không còn hạnh phúc nên yêu cầu ly hôn. Xét thấy yêu cầu xin ly hôn của chị M là phù hợp với quy định nên được chấp nhận.

[4] Về con chung: Chị M xác định có 01 con chung Cao Phước T, sinh ngày 31/10/2022, hiện cháu T đang ở với anh D và ông bà nội tại ấp T, xã T, huyện Thới Bình. Tuy nhiên, anh D đang làm công nhân nên thường xuyên giao cháu T cho ông bà nội chăm nom, nuôi dưỡng là chưa phù hợp. Đối với cháu Phước T còn rất nhỏ mới 15 tháng tuổi, cần phải có sự chăm sóc trực tiếp của người mẹ. Hiện tại chị M là mẹ có yêu cầu nuôi dưỡng sau ly hôn. Do đó, việc giao cháu Phước T cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng khi vợ chồng ly hôn là phù hợp với quy định của pháp luật nên yêu cầu của chị M được chấp nhận.

Chị M là người trực tiếp nuôi con (cháu T) có yêu cầu anh D là cha cấp dưỡng 1.500.000đ/tháng cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi. Xét thấy, việc cấp dưỡng nuôi con khi cha mẹ ly hôn là nghĩa vụ, hiện nay mức sinh hoạt chi tiêu bình thường của một người trong cuộc sống theo nhu cầu xã hội ngày càng tăng, theo yêu cầu mức cấp dưỡng nuôi con của chị M là 1.500.000đ/tháng chưa bằng ½ mức lương tối thiểu vùng theo quy định. Theo quy định cha mẹ khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng. Do đó, chị M yêu cầu anh D là cha, không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng 1.500.000đ/tháng cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi là phù hợp nên được chấp nhận.

[5] Về tài sản chung: Chị M xác định không có. [6] Về nợ chung: Chị M xác định không có.

[7] Về án phí sơ thẩm hôn nhân gia đình chị M nộp theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 144, khoản 1 Điều 147, 227, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Tuyết M về việc xin ly hôn với anh Cao Văn D.

Về con chung: Giao cho chị M là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Cao Phước T, sinh ngày 31/10/2022 (hiện cháu T đang ở với anh D và ông bà nội tại ấp T, xã T, huyện Thới Bình).

Anh D không trực tiếp nuôi con, nhưng có quyền thăm nom chăm sóc giáo dục con chung khi phù hợp với quy định của pháp luật không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh D có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng với số tiền là 1.500.000đ cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung: Chị M xác định không có. Về nợ chung: Chị M xác định không có.

Án phí dân sự sơ thẩm Hôn nhân và gia đình: Chị M nộp 300.000đ. Vào ngày 20/11/2023, chị M đã dự nộp số tiền 300.000đ theo biên lai số 0015808 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình được chuyển thu sung quỹ nhà nước.

Án phí về cấp dưỡng nuôi con: Anh D phải nộp 300.000đ (chưa nộp).

Chị M có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh D có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. 

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

100
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp hôn nhân gia đình số 21/2024/HNGĐ-ST

Số hiệu:21/2024/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thới Bình - Cà Mau
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:01/02/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về