Bản án về tranh chấp hôn nhân gia đình số 03/2025/HNGĐ-ST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO, TỈNH PHÚ THỌ

BẢN ÁN SỐ 03/2025/HNGĐ-ST NGÀY 08/01/2025 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN GIA ĐÌNH

Ngày 08/01/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 04/2024/TLST- HNGĐ ngày 01/10/2024 về việc “Tranh chấp Hôn nhân gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 28 tháng 11 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2024/QĐST – HNGĐ ngày 16/12/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1978 Địa chỉ: Khu A, xã S, huyện L, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt) Bị đơn: Anh Nguyễn Mạnh H, sinh năm 1979 Địa chỉ: Khu A, xã S, huyện L, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và lời khai tại Toà án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị V trình bày:

Chị Nguyễn Thị V tự nguyện kết hôn với anh Nguyễn Mạnh H, có đăng ký kết hôn ngày 11/4/2008 tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện L, tỉnh Phú Thọ trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu. Trong quá trình chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, mất lòng tin dẫn đến có đánh cãi chửi nhau. Kể từ tháng 11/2016 đến nay, chị V đã đưa hai con về nhà mẹ đẻ sinh sống, vợ chồng sống ly thân nhau từ đó đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Nay chị V xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị xin được ly hôn anh H.

Về con chung: Chị V xác định vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Mạnh T, sinh ngày 12/8/2003 và cháu Nguyễn Mạnh T1, sinh ngày 04/12/2009. Cháu T đã trưởng thành, chị không đề nghị Tòa án giải quyết việc nuôi con chung. Cháu T1 hiện nay đang sinh sống cùng chị. Khi ly hôn chị xin được trực tiếp nuôi dưỡng, cháu T1 và không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp gia đình, đất nông nghiệp: Chị V xác định không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án để làm việc nên không có quan điểm về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật: Quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng quy định pháp luật. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định pháp luật. Đối với các đương sự, nguyên đơn đã chấp hành đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình; bị đơn mặc dù đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng đều vắng mặt không có lý do.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Xử cho chị Nguyễn Thị V đuợc ly hôn với anh Nguyễn Mạnh H Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Mạnh T1, sinh ngày 04/12/2009 cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc, giáo dục đến khi con chung thành niên (18 tuổi) và có khả năng lao động được. Anh H không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung vì chị V tự nguyện không yêu cầu; Đối với cháu T đã đủ 18 tuổi, có khả năng lao động được, chị V không đề nghị nên không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp gia đình: Không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị V phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng chẵn) tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Thị V khởi kiện xin ly hôn anh Nguyễn Mạnh H là tranh chấp hôn nhân gia đình. Bị đơn (anh H) có đăng ký hộ khẩu thường trú tại khu A, xã S, huyện L, tỉnh Phú Thọ, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.

[2] Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng anh H không đến Tòa án trình bày quan điểm giải quyết vụ việc, chị V có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải, vì vậy Tòa án không thực hiện được thủ tục hòa giải giữa hai bên. Anh H được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 (không có đơn xét xử vắng mặt); Chị V có đơn đề nghị HĐXX xét xử vắng mặt; HĐXX căn cứ Khoản 1, Đ b Khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228; Khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị V, anh H là phù hợp pháp luật.

[3] Về nội dung:

[3.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị V và anh Nguyễn Mạnh H tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn với nhau ngày 11/4/2008 tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện L, tỉnh Phú Thọ, là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, chị V và anh H có xảy ra mâu thuẫn. Tòa án đã thực hiện thủ tục báo gọi nhiều lần nhưng anh H không đến Tòa án để trình bày quan điểm. Tuy nhiên, qua lời trình bày của nguyên đơn, thông tin xác minh tại địa phương xác định, chị V đã về nhà mẹ đẻ sinh sống từ khoảng tháng 11/2016, anh chị sống ly thân từ nhiều năm nay, không ai còn quan tâm đến ai. Về nguyên nhân mâu thuẫn, chính quyền địa phương và khu dân cư không có thông tin vì anh chị không đề nghị hòa giải tại cơ sở. Từ đó có thể thấy, mâu thuẫn của chị V, anh H đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, việc chị Vấn đề N xin được ly hôn anh H là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, cần được chấp nhận.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị V và anh Nguyễn Mạnh H có 02 con chung là cháu Nguyễn Mạnh T, sinh ngày 12/8/2003 và cháu Nguyễn Mạnh T1, sinh ngày 04/12/2009. Cháu T hiện đã đủ 18 tuổi, có khả năng lao động được, chị V không đề nghị Tòa án xem xét việc nuôi cháu T, vì vậy HĐXX không đặt ra xem xét. Đối với cháu T1 hiện đang sinh sống cùng với chị V, do chị V trực tiếp nuôi dưỡng kể từ khi anh chị sống ly thân (kể từ năm 2016 cho đến nay). Cháu T1 có nguyện vọng được ở với mẹ. Để cuộc sống của cháu T1 ổn định, không bị xáo trộn và có điều kiện phát triển tốt nhất về thể chất, tinh thần, cần tiếp tục giao cháu T1 cho chị V trực tiếp trông nom nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh H không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung vì chị V tự nguyện không yêu cầu.

Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp gia đình: Chị Nguyễn Thị V xác định không có, không đề nghị Toà án giải quyết. Anh Nguyễn Mạnh H không đến Tòa án làm việc, không thể hiện được quan điểm của mình, vì vậy HĐXX tách các nội dung trên không xem xét giải quyết trong vụ án này. Nếu các bên có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng vụ việc khác.

Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị V phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Khoản 1, Đ b khoản 2 Điều 227; Khoản 1, 3 Điều 228; Khoản 1 Điều 238; Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị V.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị V được ly hôn với anh Nguyễn Mạnh H.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Mạnh T1, sinh ngày 04/12/2009 cho chị Nguyễn Thị V trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi) và có khả năng lao động được.

Anh Nguyễn Mạnh H không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung vì chị Nguyễn Thị V tự nguyện không yêu cầu.

Người không trực tiếp nuôi dưỡng con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con chung, không ai được cản trở.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị V phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng chẵn) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng chẵn) tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001745 ngày 27/9/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. (Xác nhận chị V đã nộp đủ án phí) Chị Nguyễn Thị V, anh Nguyễn Mạnh H vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết để đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

72
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp hôn nhân gia đình số 03/2025/HNGĐ-ST

Số hiệu:03/2025/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Lâm Thao - Phú Thọ
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:08/01/2025
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về